vanban.org

Bản án 135/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 23/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Phùng Văn L, Nguyễn Tiến M, Đào Kim Ch, Lê Đức C, Nguyễn Văn Th, Lương Văn H, Lý Hoàng D, Nguyễn Văn Q, Phạm Văn Đ, Nguyễn Văn C1 phạm tội: “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Phùng Văn L 35.000.000đ (ba mươi lăm triệu đồng). Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến M 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phùng Văn L và ĐP phạm tội Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Phùng Văn L, Nguyễn Tiến M, Đào Kim Ch, Lê Đức C, Nguyễn Văn Th, Lương Văn H, Lý Hoàng D, Nguyễn Văn Q, Phạm Văn Đ, Nguyễn Văn C1 phạm tội: “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG THÀNH
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 135 /2022/HSST
Ngày 23/8/2022.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH – TỈNH ĐỒNG NAI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Trung.

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Ngọc Nam.

2/ Ông Phạm Văn Huynh.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung.

- Đ diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Trần Tiến Dũng – Kiểm sát viên.

Trong ngày 23/8/2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 117/2022/TLST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 135/2022/QĐXXST-HS ngày 09/8/2022 đối với các bị cáo:

1/ Họ và tên: Phùng Văn L (tên gọi khác: Luận); sinh năm 1985 tại tỉnh Đồng Nai.

Giới tính: Nam

Nơi cư trú: ấp A, xã BS, huyện LT, tỉnh Đồng Nai.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

Họ tên cha: Phùng Văn C2 (Đã chết).

Họ tên mẹ: Phạm Thị B, sinh năm 1965 (Còn sống).

Gia đình có 05 anh, chị em, bị cáo là con thứ 02 trong gia đình. Có vợ: Nguyễn Thị Bích Ng, sinh năm 1984 (Đã ly hôn) và có 02 người con: lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2012.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/02/2022 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Long Thành, đến ngày 18/02/2022 được hủy bỏ tạm giữ. Hiện bị cáo đang tại ngoại.

2. Họ và tên: Nguyễn Tiến M (tên gọi khác: không), sinh năm 1980 tại tỉnh Đồng Nai.

Giới tính: Nam

Nơi cư trú: ấp A, xã BS, huyện LT, tỉnh Đồng Nai.

Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

Họ tên cha: Nguyễn H (Đã chết).

Họ tên mẹ: Lý Thị B, sinh năm 1948 (Còn sống).

Gia đình có 07 anh, chị em, bị cáo là con thứ 03 trong gia đình. Vợ tên Nguyễn Thị Vàng, sinh năm 1982 và có 02 người con: lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2017.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/02/2022 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Long Thành, đến ngày 18/02/2022 được hủy bỏ tạm giữ. Hiện bị cáo đang tại ngoại.

3. Họ và tên: Đào Kim Ch (tên gọi khác: Chắc), sinh năm 1957 tại tỉnh Quảng Ngãi.

Giới tính: Nam

Nơi cư trú: ấp A, xã BS, huyện LT, tỉnh Đồng Nai.

Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ học vấn: 3/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

Họ tên cha: Đào Tr, sinh năm 1927 (Còn sống).

Họ tên mẹ: Nguyễn Thị C3, sinh năm 1932 (Đã chết).

Gia đình có 06 anh, chị em, bị cáo là con thứ 02 trong gia đình. Vợ tên Trần Thị S, sinh năm 1970 và có 03 người con: lớn nhất sinh năm 1987, nhỏ nhất sinh năm 1994.

Tiền án, tiền sự: Không.

Hiện bị cáo đang tại ngoại.

4. Họ và tên: Lê Đức C (tên gọi khác: không), sinh năm 1970 tại tỉnh Bình Định.

Giới tính: Nam

Nơi cư trú: ấp A, xã BS, huyện LT, tỉnh Đồng Nai.

Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

Họ tên cha: Lê Đức T, sinh năm 1940 (Còn sống).

Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Ph, sinh năm 1947 (Còn sống).

Gia đình có 06 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình. Có vợ tên La Thị Hồng Sương, sinh năm 1970 và có 02 người con: lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất sinh năm 1995.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo đang tại ngoại.

5. Họ và tên: Nguyễn Văn Th (tên gọi khác: không), sinh năm 1966 tại tỉnh Quảng Bình.

Giới tính: Nam

Nơi cư trú: ấp A, xã BS, huyện LT, tỉnh Đồng Nai.

Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ học vấn: 10/10; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

Họ tên cha: Nguyễn Văn Nh, sinh năm 1933 (Đã chết).

Họ tên mẹ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1935 (Còn sống).

Gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ 03 trong gia đình. Có vợ tên Nguyễn Thị B1, sinh năm 1968 và có 02 người con: lớn sinh năm 1995, nhỏ sinh năm 1999.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/02/2022 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Long Thành, đến ngày 18/02/2022 được hủy bỏ tạm giữ. Hiện bị cáo đang tại ngoại.

6. Họ và tên: Lƣơng Văn H (tên gọi khác: không), sinh năm 1965 tại tỉnh Kiên Giang.

Giới tính: Nam

Nơi cư trú: ấp A, xã BS, huyện LT, tỉnh Đồng Nai.

Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ học vấn: 8/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

Họ tên cha: Lương Văn L1, sinh năm 1935 (Đã chết).

Họ tên mẹ: Đào Thị V, sinh năm 1937 (Còn sống).

Gia đình có 08 anh, chị em, bị cáo là con thứ 04 trong gia đình. Có vợ tên: Trần Thị Hồng Ng, sinh năm 1974 và có 02 người con: lớn sinh năm 1997, nhỏ sinh năm 1999.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/02/2022 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Long Thành, đến ngày 18/02/2022 được hủy bỏ tạm giữ. Hiện bị cáo đang tại ngoại.

7. Họ và tên: Lý Hoàng D (tên gọi khác: Chính); sinh năm 1975 tại tỉnh thành phố Hồ Chí Minh.

Giới tính: Nam

Nơi cư trú: ấp BT, xã BA, huyện LT, tỉnh Đồng Nai.

Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ học vấn: 1/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

Họ tên cha: Lý Văn S2, sinh năm 1929 (Đã chết).

Họ tên mẹ: Trương Thị H1, sinh năm 1940 (Đã chết).

Gia đình có 09 anh, chị em, bị cáo là con thứ 08 trong gia đình. Có vợ tên Nguyễn Thị Th1, sinh năm 1977 và có 03 người con: lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2014.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/02/2022 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Long Thành, đến ngày 18/02/2022 được hủy bỏ tạm giữ. Hiện bị cáo đang tại ngoại.

8. Họ và tên: Nguyễn Văn Q (tên gọi khác: Mọi), sinh năm 1977 tại tỉnh Bình Định.

Giới tính: Nam.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp BT, xã BA, huyện LT, tỉnh Đồng Nai.

Chỗ ở hiện nay: ấp A, xã BS, huyện LT, tỉnh Đồng Nai.

Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

Họ tên cha: Nguyễn Văn Tr1, sinh năm 1938 (Đã chết).

Họ tên mẹ: Nguyễn Kim H2, sinh năm 1948 (Còn sống).

Gia đình có 06 anh, chị em, bị cáo là con thứ 03 trong gia đình. Có vợ tên Phạm Thị Vi C4, sinh năm 1977 và có 02 người con: lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2013.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/02/2022 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Long Thành, đến ngày 18/02/2022 được hủy bỏ tạm giữ. Hiện bị cáo đang tại ngoại.

9. Họ và tên: Phạm Văn Đ (tên gọi khác: không); sinh năm 1982 tại tỉnh Hưng Yên.

Giới tính: Nam.

Nơi cư trú: ấp A, xã Lộ B, huyện TN, tỉnh Đồng Nai.

Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo.

Họ tên cha: Phạm Văn Ch, sinh năm 1952 (Còn sống).

Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Ch1, sinh năm 1952 (Còn sống).

Gia đình có 04 anh, chị em, bị cáo là con thứ 04 trong gia đình. Có vợ tên Mai Thị Thương, sinh năm 1987 và có 03 người con: lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2017.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/02/2022 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Long Thành, đến ngày 18/02/2022 được hủy bỏ tạm giữ. Hiện bị cáo đang tại ngoại.

10. Họ và tên: Nguyễn Văn C1 (tên gọi khác: không); sinh năm 1970 tại tỉnh Tây Ninh.

Giới tính: Nam.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: khu phố NA, phường NS, thành phố TN, tỉnh Tây Ninh.

Chỗ ở hiện nay: ấp A, xã BS, huyện LT, tỉnh Đồng Nai.

Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

Họ tên cha: Nguyễn N, sinh năm 1940 (Đã chết).

Họ tên mẹ: Nguyễn Thị K, sinh năm 1943 (Còn sống).

Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ 03 trong gia đình. Có vợ tên: Nguyễn Thị H3, sinh năm 1975 và có 03 người con: lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 2005.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/02/2022 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Long Thành, đến ngày 18/02/2022 được hủy bỏ tạm giữ. Hiện bị cáo đang tại ngoại.

Các bị cáo có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 15 giờ 00 phút ngày 15/02/2022, tại miếu “Ông Bổn” thuộc ấp A, xã BS, huyện LT, tỉnh Đồng Nai, Công an huyện Long Thành phối hợp với Công an xã BS phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang Phùng Văn L, Nguyễn Tiến M, Lý Hoàng D, Đào Kim Ch, Lê Đức C, Phạm Văn Đ, Nguyễn Văn C1, Lương Văn H, Nguyễn Văn Q và Nguyễn Văn Th đang đánh bạc bằng hình thức lắc tài xỉu thắng thua bằng tiền. Thu giữ tại chiếu bạc số tiền 13.700.000 đồng; 01 bộ dụng cụ lắc tài xỉu và 01 tấm bạt màu trắng ghi chữ “Tài-xỉu”; thu giữ số tiền trên người tham gia đánh bạc gồm: M 10.050.000 đồng, D 600.000 đồng, Ch 950.000 đồng, C 11.000.000 đồng, Đ 400.000 đồng, C1 900.000 đồng, H 3.200.000 đồng, Q 500.000 đồng và Th 4.000.000 đồng.

Quá trình điều tra xác định: Lúc 14 giờ 00 phút ngày 15/02/2022, sau khi cúng và ăn tiệc tại miếu “Ông Bổn” thì có một số người rủ nhau chơi “Tài-xỉu” nên L nhờ một người bạn tên Phương (chưa rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể) đi mua bia và ghé nhà C L lấy bộ dụng cụ lắc tài xỉu mang đến cho L. Sau đó, L nhờ M làm cái xóc đĩa, còn L ngồi bên cạnh uống bia và Ch chi tiền cho những người đánh bạc. M trực tiếp lắc tài xỉu được một lúc thì nghỉ, L tiếp tục lắc tài xỉu đến 15 giờ cùng ngày thì bị bắt quả tang như trên.

Hình thức đánh như sau: trong mỗi ván, người chơi đặt bên “tài” hoặc bên “xỉu” với số tiền thấp nhất là 50.000 đồng, cao nhất là 200.000 đồng. Nếu người nào đặt bên “xỉu” mà tổng số điểm C 03 hột xúc xắc từ 4 -10 điểm là thắng và người nào đặt bên “tài” thì tổng số điểm C 03 hột xúc xắc từ 11-17 điểm là thắng, còn không thì ngược lại. Trong trường hợp số điểm C 3 hột xúc xắc giống nhau thì gọi là “bão”, nếu bão thì người làm cái thắng hết số tiền ván đó. Ngoài ra, còn những người chơi có thể đặt theo số từ 04 đến 17, nếu trúng thì tỷ lệ ăn được tính theo quy định C người làm cái. Những người đánh bạc tính tiền thắng thua với nhà cái. Khi tham gia đánh bạc, L sử dụng 2.000.000 đồng vào mục đích đánh bạc, khi bị bắt số tiền C L để trên chiếu đã bị công an thu giữ. Đ mang theo 600.000 đồng sử dung đánh bạc, khi bị bắt Đ thua 200.000 đồng, còn lại 400.000 đồng bị thu giữ; C1 mang theo 1.000.000 đồng sử dụng đánh bạc, khi bị bắt thua 50.000 đồng, đang đặt 50.000 đồng trên chiếu, còn 900.000 đồng bị thu giữ; Th mang theo 4.300.000 đồng, sử dụng 300.000 đồng vào mục đích đánh bạc, khi bị bắt thua số tiền 200.000 đồng, còn 100.000 đồng vứt ở chiếu bạc, bị thu giữ 4.000.000 đồng (không sử dụng đánh bạc); D mang theo 800.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt thua 200.000 đồng, còn 600.000 đồng bị thu giữ; Ch mang theo 1.150.000 đồng, sử dụng 200.000 đồng vào mục đích đánh bạc, khi bị bắt Ch thua hết 200.000 đồng và đang đứng xem, bị thu giữ 950.000 đồng (không sử dụng đánh bạc); C mang theo 9.700.000 đồng, sử dụng 700.000 đồng vào mục đích đánh bạc, khi bị bắt C thắng 1.300.000 đồng, bị thu giữ 2.000.000 đồng sử dụng đánh bạc và 9.000.000 đồng (không sử dụng đánh bạc); Q mang theo 400.000 đồng sử dụng đánh bạc, khi bị bắt thắng 100.000 đồng, bị thu giữ 500.000 đồng; H mang theo 3.200.000 đồng, sử dụng 3.000.000 đồng vào mục đích đánh bạc, khi bị bắt không thắng, không thua, bị thu giữ 3.000.000 đồng sử dụng đánh bạc và 200.000 đồng (không sử dụng đánh bạc). Tất cả đánh bạc đến 15 giờ 00 phút cùng ngày thì bị bắt quả tang. Ngoài ra, còn một số người tham gia đánh bạc khác (chưa rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể) đã bỏ chạy thoát.

Tổng số tiền thu giữ trên chiếu bạc và tiền thu giữ trên người các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là 21.100.000 đồng (Gồm 13.700.000 đồng trên chiếu và 7.400.000 đồng thu trên người). Ngoài ra còn tạm giữ 24.200.000 đồng tiền thu trên người những người đánh bạc nhưng không sử dụng vào việc đánh bạc.

Tại bản Cáo trạng số 89/CT-VKSLT ngày 10 tháng 6 năm 2022 C Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đã truy tố các bị cáo PH Văn L, Nguyễn Tiến M, Đào Kim Ch, Lê Đức C, Nguyễn Văn Th, Lương Văn H, Lý Hoàng D, Nguyễn Văn Q, Phạm Văn Đ, Nguyễn Văn C1 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo theo điều khoản nói trên và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s, khoản 1 Điều 51C Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với các bị cáo Phùng Văn L, Nguyễn Tiến M, Đào Kim Ch, Lê Đức C, Nguyễn Văn Th, Lương Văn H, Lý Hoàng D, Nguyễn Văn Q, Phạm Văn Đ, Nguyễn Văn C1. Đề nghị:

- Xử phạt bị cáo Phùng Văn L từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

- Xử phạt các bị cáo Đào Kim Ch, Lê Đức C, Nguyễn Văn Th, Lương Văn H, Lý Hoàng D, Nguyễn Văn Q, Phạm Văn Đ, Nguyễn Văn C1, Nguyễn Tiến M từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH C TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận: Vào khoảng 14 giờ 00 phút ngày 15/02/2022, tại miếu “Ông Bổn” thuộc ấp A, xã BS, huyện LT, tỉnh Đồng Nai, Phùng Văn L với vai trò là người làm cái đánh bạc bằng hình thức lắc tài xỉu thắng thua bằng tiền cùng với Lý Hoàng D, Đào Kim Ch, Lê Đức C, Phạm Văn Đ, Nguyễn Văn C1, Lương Văn H, Nguyễn Văn Q và Nguyễn Văn Th thì bị lực lượng Công an huyện Long Thành phối hợp với Công an xã BS phát hiện, lập biên bản phạm tội quả tang. Còn Nguyễn Tiến M là người được L nhờ để lắc tài xỉu giúp L. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc được xác định là 21.100.000 đồng.

[2] Các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội. Đối chiếu lời khai C các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai C các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai C người làm chứng, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ đó, có đủ căn cứ để xác định các bị cáo Phùng Văn L, Nguyễn Tiến M, Đào Kim Ch, Lê Đức C, Nguyễn Văn Th, Lương Văn H, Lý Hoàng D, Nguyễn Văn Q, Phạm Văn Đ, Nguyễn Văn C1 đã phạm vào tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1, Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, tội danh và hình phạt hoàn toàn phù hợp với Điều luật mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đã truy tố và viện dẫn tại Cáo trạng.

[3] Xét hành vi phạm tội C các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo trong vụ án đều là những người trưởng thành, có đầy đủ khả năng nhận thức pháp luật, biết rõ việc đánh bạc là tệ nạn xã hội mà Nhà nước đã nghiêm cấm. Nhưng xuất phát từ động cơ vụ lợi, các bị cáo đã rủ nhau đánh bạc dưới hình thức lắc tài xỉu thắng thua bằng tiền nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của nhau. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng, đi ngược lại với việc đấu tranh phòng chống tệ nạn cờ bạc trên địa bàn huyện Long Thành nói riêng và trong toàn xã hội nói chung. Hành vi của các bị cáo làm ảnh hưởng đến sức khỏe, tài sản, hạnh phúc của các gia đình, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, làm mất tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Hành vi của các bị cáo cũng là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội khác.

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo không có sự bàn bạc, cấu kết chặt chẽ mà chỉ tiếp nhận ý chí của nhau để cùng thực hiện hành vi phạm tội. Vai trò của các bị cáo như sau:

Bị cáo Phùng Văn L là người trực tiếp đứng ra làm cái, sử dụng số tiền 2.000.000 đồng để tham gia đánh bạc với những người khác. Các bị cáo Đào Kim Ch, Lê Đức C, Nguyễn Văn Th, Lương Văn H, Lý Hoàng D, Nguyễn Văn Q, Phạm Văn Đ, Nguyễn Văn C1 trực tiếp tham gia đánh bạc thắng thua bằng tiền. Vì vậy, bị cáo L phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn so với các bị cáo khác. Bị cáo Nguyễn Tiến M mặc dù không trực tiếp tham gia đánh bạc thắng thua bằng tiền, không được L trả tiền công, không hưởng lợi gì từ việc đánh bạc nhưng bị cáo đã rất tích cực khi là người trực tiếp cầm cái, lắc tài xỉu giúp bị cáo L. Do đó, bị cáo M cũng phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò đồng phạm.

Vì vậy, căn cứ vào tính chất, vai trò và mức độ tham gia của từng bị cáo, Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc mức hình phạt cho phù hợp.

[4] Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng xem xét các bị cáo Phùng Văn L, Nguyễn Tiến M, Đào Kim Ch, Lê Đức C, Nguyễn Văn Th, Lương Văn H, Lý Hoàng D, Nguyễn Văn Q, Phạm Văn Đ, Nguyễn Văn C1 mới phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Sau khi cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đối chiếu với quy định C pháp luật, Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

Xét, các bị cáo Phùng Văn L, Nguyễn Tiến M, Đào Kim Ch, Lê Đức C, Nguyễn Văn Th, Lương Văn H, Lý Hoàng D, Nguyễn Văn Q, Phạm Văn Đ, Nguyễn Văn C1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, đều có nơi cư trú rõ ràng. Từ khi được tại ngoại đến nay, các bị cáo đã chấp hành tốt chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, chấp hành tốt theo giấy triệu tập C các cơ quan tiến hành tố tụng. Vì vậy, không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội, xử phạt các bị cáo bằng hình thức phạt tiền cũng có tác dụng răn đe, giáo giục.

[5] Về xử lý vật chứng:

- Số tiền 21.100.000 đồng thu trên chiếu bạc và trong người của các bị cáo là tiền sử dụng vào việc đánh bạc và do đánh bạc mà có nên tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước.

- 01 bộ dụng cụ lắc tài xỉu (gồm 03 hột xí ngầu, 01 ly sứ, 01 đĩa thủy tinh và 01 tấm bạt có in chữ “Tài-Xỉu) sử dụng vào việc đánh bạc nên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với số tiền tạm giữ của các bị cáo gồm: thu giữ của M 10.050.000 đồng, thu giữ C bị cáo C 9.000.000 đồng, thu giữ C bị cáo Th 4.000.000 đồng, thu giữ C bị cáo Ch 950.000 đồng và thu giữ C bị cáo H 200.000 đồng. Đây là tiền các bị cáo không sử dụng vào việc đánh bạc nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành đã trả lại cho các bị cáo là phù hợp.

- Đối với 01 xe ô tô hiệu Inova biển số 60A-872.01; 01 xe mô tô biển số 51T1-6595; 01 xe mô tô biển số 60H2-6807; 01 xe mô tô biển số 60F1-41905; 01 xe mô tô biển số 60Y5-1194 và 01 xe mô tô biển số 60C1-298.25, xét không lên quan đến vụ án nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành đã trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp.

- Riêng 01 xe ô tô hiệu Toyota Camry, biển số 51-567.04 do bị cáo L mua lại của người chưa rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, chưa làm thủ tục sang tên, người đứng tên chủ sở hữu là Trần Lai Yến My. Chị My khai có hợp đồng cho Vương Trường Khanh, địa chỉ: Phước Lý, Đại Phước, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai thuê xe. Hiện chưa xác minh làm việc được với Khanh nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành tiếp tục tạm giữ để xác minh, làm rõ xử lý sau.

[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ theo quy định.

[7] Về tính hợp pháp của các quyết định, hành vi tố tụng của điều tra viên, kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đều được thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Phùng Văn L, Nguyễn Tiến M, Đào Kim Ch, Lê Đức C, Nguyễn Văn Th, Lương Văn H, Lý Hoàng D, Nguyễn Văn Q, Phạm Văn Đ, Nguyễn Văn C1 phạm tội: “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s, khoản 1 Điều 51; Điều 17, 35, 58 C Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 C Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

- Xử phạt bị cáo Phùng Văn L 35.000.000đ (ba mươi lăm triệu đồng).

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến M 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng).

- Xử phạt bị cáo Đào Kim Ch 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng).

- Xử phạt bị cáo Lê Đức C 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng).

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Th 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng).

- Xử phạt bị cáo Lương Văn H 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng).

- Xử phạt bị cáo Lý Hoàng D 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng).

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng).

- Xử phạt bị cáo Phạm Văn Đ 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng).

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C1 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng).

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 21.100.000 đồng.

- Tịch thu tiêu hủy 01 bộ dụng cụ lắc tài xỉu xỉu (gồm 03 hột xí ngầu, 01 ly sứ, 01 đĩa thủy tinh và 01 tấm bạt có in chữ “Tài-Xỉu).

(Theo Giấy nộp tiền mặt ngày 28/6/2021 C Ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển Việt Nam – CN Đông Đồng Nai và Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28/6/2022 của cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành)

Án phí HSST: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ