- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kiều D và bị đơn anh Ngueyenx Văn T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kiều D đối với anh Nguyễn Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG DÂN TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 135/2022/HNGĐ - ST Ngày: 28/9/2022. V/v Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG DÂN - TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Bé Nhi
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lại Thiện Phong
Ông Danh On
- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Kim Phương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Dân tham gia phiên tòa: Bà Lê Huyền Mao - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2022, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Hồng Dân xét xử công khai sơ thẩm vụ án thụ lý số: 211/2022/TLST–HNGĐ, ngày 07 tháng 7 năm 2022 về tranh chấp xin ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 126/2022/QĐXXST–HNGĐ, ngày 16 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kiều D, sinh năm 1996. Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu, (vắng mặt).
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1991. Địa chỉ: Ấp C, xã NTLA, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu, (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 06 tháng 7 năm 2022 và lời khai trong quá trình chuẩn bị xét xử, chị Nguyễn Thị Kiều D là nguyên đơn trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Năm 2022, chị D và anh T tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng, đến ngày 21/02/2022 được Ủy ban nhân dân xã Phước Long, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu cấp giấy chứng nhận kết hôn. Trong quá trình chung sống, có phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, mâu thuẫn ngày càng nhiều nên từ tháng 5 năm 2022 đến nay vợ chồng không ở chung một nhà. Nay chị D yêu cầu được ly hôn với anh T; Về quan hệ con chung: Chị D xác định giữa chị và anh T không có con chung. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn là anh Nguyễn Văn T: Tòa án có tiến hành giao Thông báo thụ lý và tiến hành lấy lời khai đối với anh T nhưng anh T không có mặt ở địa phương nên không thể tiến hành giao Thông báo thụ lý và không thể tiến hành lấy lời khai đối với anh T được. Do đó, Tòa án tiến hành niêm yết các thủ tục theo quy định pháp luật cho anh T. Chính quyền địa phươg xác định: Anh T vẫn còn đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp C, xã NTLA, tỉnh Bạc Liêu và hiện tại không có ở địa phương nhưng lâu lâu anh T có về địa phương một lần.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định pháp luật; Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình; Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nên đề nghị xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn; Về nội dung: Sau khi phân tích yêu cầu khởi kiện, những quy định của pháp luật, đề nghị: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Kiều D được ly hôn với anh Nguyễn Văn T. Về con chung : Không có. Về quan hệ tài sản: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết. Ngoài ra đương sự còn phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật: Chị Nguyễn Thị Kiều D khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn T nên căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án thụ lý giải quyết vụ án về “Tranh chấp xin ly hôn” là đúng quy định.
Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Nguyễn Văn T có nơi đăng ký thường trú tại ấp C, xã NTLA, tỉnh Bạc Liêu nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
[3] Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kiều D có đơn yêu cầu được xét xử vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Văn T vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228; điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn và bị đơn.
Xét đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Kiều D, Hội đồng xét xử thấy rằng: Chị Nguyễn Thị Kiều D và anh Nguyễn Văn T, tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng và được Ủy ban nhân dân xã Phước Long, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 21/02/2022 nên quan hệ hôn nhân giữa chị D và anh T là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Trong quá trình chung sống, chị D và chị Thật có phát sinh mâu thuẫn, mâu thuẫn ngày càng nhiều nên cả hai không còn chung sống một nhà. Tòa án có tiến hành xác minh được biết giữa chị D và anh T có phát sinh mâu do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Vì vậy, căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cho chị D được ly hôn với anh T.
Về quan hệ con chung: Chị D xác định chị và anh T không có con chung.
Về quan hệ tài sản: Chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự. Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị D phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.
Về ý kiến phát biểu việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên: Hội đồng xét xử xét thấy việc đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng các điều 51, 53, 56, Luật Hôn nhân và Gia đình;
Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kiều D đối với anh Nguyễn Văn T.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kiều D được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.
2. Về con chung: Chị D và anh T không có nên không đặt ra xem xét.
3. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Kiều D không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đặt ra xem xét.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kiều D phải chịu 300.000đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, chị D đã nộp 300.000đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0006418 ngày 07/7/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu nay được chuyển thu án phí toàn bộ.
Chị Nguyễn Thị Kiều D và anh Nguyễn Văn T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bạc Liêu; - VKSND huyện Hồng Dân; - Chi cục THADS huyện Hồng Dân; - Đương sự; - UBND xã Phước Long; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lâm Bé Nhi |