vanban.org

Bản án 135/2021/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 28/10/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo T T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Xử phạt bị cáo T T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/3/2021. Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền với bị cáo T T Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Thạch Thi - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo T T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH THẠNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 135/2021/HS-ST
Ngày 28 tháng 10 năm 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Thức

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Nhơn

Bà Nguyễn Thị Bính Thân

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Xuân Trường - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Vũ Nhật Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 10 năm 2021 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 130/2021/TLST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 147/2021/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2021 đối với các bị cáo:

Họ và tên: T T; sinh năm 2001; Giới tính: Nam; Nơi sinh: tỉnh Trà Vinh; Nơi ĐKHKTT: Ấp Cós X, xã T, huyện C, tỉnh T V; Chỗ ở hiện nay: Như trên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Khmer; Tôn giáo: phật; Trình độ học vấn: 01/12; Nghề nghiệp: Không; Họ tên cha: Không rõ; Họ tên mẹ: Thạch Thị Na Q, sinh năm 1978; Anh, chị, em: Bị cáo có ba anh em, bị cáo là người lớn nhất trong gia đình; Vợ, con: chưa có; Nhân thân: Ngày 28/8/2019, bị Công an huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 122/QĐ-XPHC về hành vi trộm cắp tài sản và sử dụng trái phép chất ma túy với tổng số tiền phạt là 2.250.000 đồng; Tiền án, tiền sự: không có; Tạm giam ngày: 11/3/2021

Những người tham gia tố tụng:

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Thạch Chane D

Địa chỉ: Ấp Cós Xoài, xã Trường Thọ, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh

Người bào chữa chỉ định cho bị cáo: Bà Bùi Thị Công Nương – Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý Thành phố Hồ Chí Minh.

(Bị cáo, người bào chữa chỉ định cho bị cáo có mặt; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 01 giờ 10 ngày 11/3/2021, tại trước số 54 Nơ Trang Long, phường 14, quận Bình Thạnh tổ tuần tra đặc nhiệm hình sự phát hiện T T đang điều khiển xe Honda Wave mang BKS: 84E1 - 444.83 có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện tại túi quần phía trước bên phải Thi đang mặc có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu (Thi khai là ma túy đá), tại túi quần phía trước bên trái đang mặc có 01 bình xịt hình trụ được quấn băng keo màu đen nên tổ công tác tiến hành thu giữ tang vật và giao Thi cho Công an phường 14, quận Bình Thạnh phối hợp Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy tiếp nhận thụ lý.

Tại cơ quan điều tra, T T khai nhận bản thân nghiện, sử dụng loại ma túy “đá” được khoảng 02 tháng nay. Mục đích Thi cất giấu ma túy là để sử dụng cho bản thân. Qua bạn bè giới thiệu cho Thi biết người đàn ông đứng gần cầu Trần Khánh Dư là người bán ma túy nên Thi đến trực tiếp xin số điện thoại để liên lạc mua ma túy và được người đàn ông cho số điện thoại 0584.604.912. Thi đã mua ma túy “đá” được 04 lần, mỗi lần 200.000đ. Lần cuối là ngày 10/3/2021, cụ thể: khoảng 22 giờ 00 ngày 10/3/2021, Thi gọi cho người đàn ông sử dụng số điện thoại 0584.604.912 hỏi mua 200.000đ ma túy “đá”, hẹn giao tại khu vực cầu Trần Khánh Dư, Q.Phú Nhuận. Sau khi hẹn xong, Thi điều khiển xe máy BS: 84E1-444.83 đến điểm hẹn. Khi đến nơi, Thi đưa người đàn ông 200.000đ, người này đưa Thi 01 gói nylon chứa ma túy “đá”. Mua ma túy xong thì Thi cất giấu gói ma túy vào túi quần phía trước bên phải đang mặc rồi đi về đến trước số 54 Nơ Trang Long, P.14, Q.Bình Thạnh thì bị công an kiểm tra, phát hiện, thu giữ ma túy như trên.

Tại Kết luận định giám định số 1746/KLGĐ-H ngày 19 tháng 3 năm 2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hồ Chí Minh: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên T T, Mai Văn Dương, Lê Văn Có, Đỗ Nhân Hiền và hình dấu Công an phường 14, quận Bình Thạnh là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1566g loại Methamphetamine.

Đối với bình xịt hơi cay trong túi quần của Thi: Theo Kết luận định giám định số 1841/KLGĐ-TT ngày 16 tháng 4 năm 2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hồ Chí Minh: Bình xịt gửi đến giám định (bình xịt có quấn băng keo đen bên ngoài, có hiệu “DOBERMAN”, có chiều dài khoảng 95mm, có đường kính khoảng 21,5mm) là bình xịt hơi cay, còn sử dụng được, không xác định được nguồn gốc, xuất xứ. Căn cứ điểm e, Khoản 11, Điều 3 của Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ do Quốc hội ban hành ngày 20 tháng 6 năm 2017 (có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2018) thì bình xịt hơi cay gửi giám định là công cụ hỗ trợ có tính năng, tác dụng tương tự, thuộc nhóm công cụ hỗ trợ.

Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã ra Quyết định xử phạt hành chính số 1274/QĐ-XPHC ngày 24/5/2021 đối với T T về hành vi “Tàng trữ công cụ hỗ trợ mà không có giấy phép” quy định tại điểm c, khoản 5, Điều 10 Nghị định 167/2013/NĐ-CP và hình thức xử phạt bổ sung: Tịch thu tang vật vi phạm hành chính gồm: 01 bình xịt hơi cay hiệu “DOBERMAN” có đường kính 21,5mm, chiều dài 95mm.

Vật chứng:

- 01 gói nylon chứa tinh thể rắn không màu là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1566g loại Methamphetamine.

- 01 điện thoại hiệu Nokia màu xám tím, Thi dùng để liên lạc mua ma túy.

- 01 (một) xe gắn máy hiệu Honda Wave màu trắng đen bạc BS: 84E1-444.83 có SK: RLHJA3919KY157416; SM: JA39E-1014710. Qua xác minh là tài sản của Thạch Chane Duyên (anh họ Thi), Thi mượn xe nói đi công việc và việc Thi dùng xe đi mua ma túy Duyên không biết. Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho Duyên theo quy định.

Tại bản cáo trạng số 137/CT-VKSBTh ngày 10 tháng 6 năm 2021 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh đã truy tố bị cáo T T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, được quy định tại điểm c khoản 1, Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên bà Bùi Thị Công Nương - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước bào chữa chỉ định cho bị cáo T T trình bày lời bào chữa như sau: Trước hết bà đồng ý với tội danh và điều luật áp dụng cũng như khung hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh vừa luận tội với bị cáo. Tuy nhiên bà đưa ra một số tình tiết đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khi lượng hình đối với bị cáo như sau: Bị cáo T T là dân tộc thiểu số, dân tộc Khmer, có trình độ học vấn thấp nên khả năng nhận thức về pháp luật hạn chế. Bị cáo có còn cảnh đáng thương, không rõ cha là ai nên thiếu sự quan tâm, chăm sóc của gia đình. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải về việc làm của mình, bi cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu, do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo T T đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình giống như lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đồng thời bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh đã truy tố. Bị cáo đồng ý lời bào chữa của người bào chữa chỉ định cho bị cáo đã trình bày và không tham gia tranh luận gì thêm. Bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt khi được nói lời nói sau cùng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Thạch Chane Duyên vắng mặt tại phiên tòa, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Qua nghiên cứu hồ sơ thể hiện ông đã nhận lại tài sản là chiếc xe mô tô biển số 84E1-444.83, do đó việc ông vắng mặt không làm ảnh hưởng đến nội dung giải quyết vụ án, do đó Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt theo quy định.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh thực hành quyền công tố trình bày quan điểm của Viện kiểm sát đối với vụ án, sau khi phân tích tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, đã giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo T T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1, Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo T T mức án từ 01 (một) năm 06 tháng đến 02 (hai) năm tù. Về vật chứng đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Bình Thạnh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo T T khai nhận đã thực hiện các hành vi như Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, biên bản hỏi cung bị can, biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 01 giờ 10 phút, ngày 11/3/2021 tổ tuần tra của Đội cảnh sát hình sự - Công an quận Bình Thạnh kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang đối với T T tại trước số nhà 54 Nơ Trang Long, phường 14, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, qua kiểm tra phát hiên tại túi quần phía trước bên phải Thị mặc có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, Thi khai là ma túy đá. Nguồn gốc số ma túy trên do T T mua của một người đàn ông (không rõ lai lịch) thông qua số điện thoại 0584.604.712 tại cầu Trần Khánh Dư, quân Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh. Thi mua được khoảng 4 lần, mỗi lần mua 200.000 đồng, mục đích tàng trữ ma túy là để sử dụng cho bản thân, ngoài ra không còn mục đích nào khác.

Căn cứ Kết luận giám định số: 1746/KLGĐ-H ngày 19 tháng 3 năm 2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hồ Chí Minh: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên T T, Mai Văn Dương, Lê Văn Có, Đỗ Nhân Hiền và hình dấu Công an phường 14, quận Bình Thạnh là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1566g loại Methamphetamine.

Từ những hành vi và chứng cứ nêu trên, đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo T T đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, nên Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.

Bị cáo T T là người đã trưởng thành, đã đủ khả năng nhận thức ma túy là chất gây nghiện, người sử dụng sẽ bị lệ thuộc và bị hủy hoại cả thể chất lẫn tinh thần, mọi hành vi vi phạm sẽ bị pháp luật xử lý nghiêm khắc. Tuy nhiên bị cáo vẫn cố ý tàng trữ để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến sự quản lý độc quyền về chất ma túy của Nhà Nước, là nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ ma túy là chất gây nghiện, có tính độc hại cao, người đã sử dụng sẽ lệ thuộc vào ma túy, ngoài việc tổn hại về sức khỏe, kinh tế của bản thân và gia đình, còn có thể gây tác hại to lớn về nhiều mặt cho xã hội, gây mất trật tự xã hội tại địa phương, gây hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân, đồng thời cũng là tác nhân phát sinh những tệ nạn xã hội và các tội phạm khác. Bị cáo sử dụng ma túy một thời gian dài là rất nguy hiểm cho xã hội, khi bị cáo sử dụng ma túy không làm chủ được bản thân, có thể gây ra nhiều hệ lụy khác cho xã hội.

Nhân thân của bị cáo: Ngày 28/8/2019, bị Công an huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 122/QĐ-XPHC về hành vi trộm cắp tài sản và sử dụng trái phép chất ma túy với tổng số tiền phạt là 2.250.000 đồng. Tuy quyết định nêu trên bị cáo đã chấp hành xong và không tính tiền sự, nhưng cho thấy bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo không lấy đó làm bài học để ăn năn hối cải, nay lại tiếp tục phạm tội thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng một mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, tương xứng với mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân của bị cáo mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét lời bào chữa của người bào chữa chỉ định cho các bị cáo T T, Hội đồng xét xử xét thấy như sau: Người bào chữa chỉ định căn cứ vào nhân thân của các bị cáo T T đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1, khoản 2, Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để xử phạt đối với các bị cáo một mức án phù hợp, tương xứng với tính chất mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật, do đó Hội đồng xét xử nghi nhận.

Tuy nhiên, tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Nhân thân bị cáo tốt, phạm tội lần đầu, bị cáo thuộc thành phần dân tộc thiểu số, (dân tộc Khmer), bị cáo có trình độ học vấn thấp, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn. Do đó áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.

Đối với người đàn ông (chưa rõ lai lịch) là người bán ma túy cho T T tại chân cầu Trần Khánh Dư, Cơ quan điều tra - Công an quận Bình Thạnh đang tiến hành xác minh nhân thân, lai lịch khi nào làm rõ sẽ đề nghị xử lý sau.

Ở dạng tội phạm này, ngoài hình phạt tù ra các bị cáo còn phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền, nhưng xét thấy bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không có việc làm ổn định, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

Đối với bình xịt hơi cay trong túi quần của Thi: Theo Kết luận định giám định số 1841/KLGĐ-TT ngày 16 tháng 4 năm 2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hồ Chí Minh: Thì bình xịt hơi cay gửi giám định là công cụ hỗ trợ có tính năng, tác dụng tương tự, thuộc nhóm công cụ hỗ trợ. Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã ra Quyết định xử phạt hành chính số 1274/QĐ-XPHC ngày 24/5/2021 đối với T T về hành vi “Tàng trữ công cụ hỗ trợ mà không có giấy phép” quy định tại điểm c, khoản 5, Điều 10 Nghị định 167/2013/NĐ-CP và hình thức xử phạt bổ sung: Tịch thu tang vật vi phạm hành chính gồm: 01 bình xịt hơi cay hiệu “DOBERMAN” có đường kính 21,5mm, chiều dài 95mm là phù hợp với quy định, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

- 01 (một) gói niêm phong số 1746/2021 có chữ ký niêm phong của Giám định viên Trần Đình Hải và cán bộ điều tra Phạm Trương Hòa Thật, bên trong là mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định (Bản kết luận giám định số 1746/KLGĐ-MT ngày 19/3/2021) gồm tinh thể không màu có khối lượng 0,1303g. Đây là vật chứng của vụ án không có giá trị sử dụng, do đó Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy theo quy định.

- 01 điện thoại hiệu Nokia màu xám tím, đây là vật chứng của vụ án, bị cáo dùng điện thoại để liên hệ mua ma túy, do đó Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước theo quy định.

- 01 (một) xe gắn máy hiệu Honda Wave màu trắng đen bạc BS: 84E1-444.83 có SK: RLHJA3919KY157416; SM: JA39E-1014710. Qua xác minh là tài sản của Thạch Chane Duyên (anh họ Thi), Thi mượn xe nói đi công việc và việc Thi dùng xe đi mua ma túy Duyên không biết. Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho anh Duyên là phù hợp với quy định, do đó Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại các Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo T T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

- Áp dụng điểm c khoản 1, Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo T T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/3/2021.

Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền với bị cáo T T

- Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

+ Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong số: 1746/2021 có chữ ký niêm phong của Giám định viên Trần Đình Hải và cán bộ điều tra Phạm Trương Hòa Thật, bên trong là mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định (Bản kết luận giám định số 1746/KLGĐ-MT ngày 19/3/2021) gồm tinh thể không màu có khối lượng 0,1303g.

+ Tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại hiệu Nokia màu xám tím.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng lúc 10 giờ 05 phút, ngày 16/6/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh).

- Áp dụng các Điều 135; 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ