vanban.org

Bản án 135/2020/HSST — Hình sự

TAND TP. Long Xuyên, tỉnh An Giang Tuyên án 24/12/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên ố: Bị cáo Phạm Kiến D phạm t i “Giao cấu với ng i từ đủ 13 đến d ới 16 tuổi”.

Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc h i về việc thi hành B luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã đ c sửa đổi, ổ sung m t số điều theo Luật số 12/2017/QH14 và về hiệu lực thi hành của B luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13, Luật Thi hà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Kiến D - phạm tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (điều 145 Luật sửa đổi…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên ố: Bị cáo Phạm Kiến D phạm t i “Giao cấu với ng i từ đủ 13 đến d ới 16 tuổi”.
  • Căn cứ chính? Luật Thi hành tạm giữ; Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ L

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 135/2020/HSST
Ngày: 24-12-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L - TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Nam

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Mai Thị Ngọc Hân

Cán Văn phòng Đảng ủy ph ng M, thành phố L

2. Bà Nguyễn Thị Tuyết Hồng

Chủ tịch H i Liên Phụ nữ thành phố L

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Hiếu – Th ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Phú Sang - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 12 năm 2020, tại Tòa án nhân dân thành phố L xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 124/2020/TLST-HS ngày 18/11/2020 theo Quyết định đ a vụ án ra xét xử số: 143/2020/QĐXXST-HS ngày 09/12/2020 đối với ị cáo:

Phạm Kiến D, sinh năm 1988 tại thành phố L - tỉnh An Giang. Nơi đăng ký h khẩu th ng trú: Tổ 4, ấp B, xã K, thành phố L, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình đ văn hóa: 6/12; Dân t c: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Đạo Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông (không rõ họ tên) và à Phạm Thị H; Bị cáo ch a có v , có 01 con sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo đang chấp hành án phạt tù trong vụ án khác từ ngày 12/5/2020 và có mặt tại phiên tòa

Bị hại Trần Thị Ngọc C, sinh năm 1997. Địa chỉ: Tổ 9, ấp B, xã K, thành phố L, tỉnh An Giang. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn iến tại phiên tòa, n i dung vụ án đ c tóm tắt nh sau:

Khoảng tháng 4/2011, Phạm Kiến D quen iết và có quan hệ tình cảm với em C, sinh ngày 20/3/1997. Đến đầu tháng 7/2011, D và C từ thành phố L đến thị xã T, tỉnh Bình D ơng thuê nhà trọ chung sống nh v chồng, D đã nhiều lần giao cấu với C tại nhà trọ. Đến khoảng cuối tháng 7/2011, à Phạm Thị H (mẹ đẻ của D), ông Trần Văn H, ông Huỳnh Thị M (cha mẹ đẻ của C) iết việc này nên đã tổ chức hôn lễ cho D và C vào ngày 23/7/2011. Khoảng th i gian này, D và C chung sống chung nhà với ông H, bà M tại tổ 9, ấp B, xã K, thành phố L và D đã nhiều lần giao cấu với C. Đến đầu năm 2012, C phát hiện có thai và sinh ra bé trai vào ngày 27/9/2012, đặt tên là Trần Hoàng B. Đến cuối năm 2013, D và C chấm dứt quan hệ chung sống nh v chồng.

Kết luận giám định số 4570/C09B ngày 25 tháng 9 năm 2020 của Phân viện khoa học hình sự B Công an tại thành phố Hồ Chí Minh xác định: Mẫu cần giám định (Mẫu tóc, tế ào niêm mạc miệng của Trần Hoàng B) và Mẫu so sánh (Mẫu tóc và tế ào niêm mạc miệng và tóc của Phạm Kiến D; Mẫu tóc và tế ào niêm mạc miệng và tóc của Trần Thị Ngọc C). Kết luận về đối t ng giám định: Phạm Kiến D và Trần Thị Ngọc C có quan hệ huyết thống cha, mẹ, con với cháu Trần Hoàng B.

Phiếu xét nghiệm HIV ngày 22/10/2020 của Trung tâm kiểm soát ệnh tật tỉnh An Giang xác định Phạm Kiến D âm tính.

Cáo trạng số: 122/CT-VKS ngày 16/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố L, truy tố Phạm Kiến D về t i “Giao cấu với ng i từ đủ 13 tuổi đến d ới 16 tuổi” theo điểm a, d khoản 2 Điều 145 B luật Hình sự năm 2015 đ c sửa đổi, ổ sung năm 2017.

Tại phiên toà hình sự sơ thẩm:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị H i đồng xét xử:

Về trách nhiệm hình sự:

Áp dụng điểm a, d khoản 2 Điều 145, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 B luật hình sự năm 2015, Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017, đề nghị xử phạt ị cáo Phạm Kiến D từ 03 năm đến 04 năm tù về t i “Giao cấu với ng i từ đủ 13 tuổi đến d ới 16 tuổi”;

Áp dụng Điều 56 B luật Hình sự năm 2015 đề nghị H i đồng xét xử tổng h p hình phạt 09 (chín) tháng tù về t i “Lạm dụng tín chiếm đoạt tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 86/2020/HS-ST ngày 09/9/2020 của Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh An Giang.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trần Thị Ngọc C không yêu cầu ị cáo ồi th ng về dân sự nên đề nghị không xét đến.

Bị cáo Phạm Kiến D khai nhận: Năm 2011, ị cáo quen iết và phát sinh tình cảm với Trần Thị Ngọc C. Tiếp đó, cả hai đến tỉnh Bình D ơng thuê nhà trọ chung sống với nhau, ị cáo đã quan hệ tình dục với C nhiều lần. Đầu năm 2012, khi iết đ c sự việc thì hai ên gia đình có tổ chức lễ c ới và sống chung với nhau tại nhà của cha, mẹ C cho đến khi C mang thai và sinh con trai tên Trần Hoàng B, sinh ngày 27/9/2012. Đến năm 2013, ị cáo và C cự cãi nên không sống chung với nhau nh n i dung Cáo trạng đã truy tố. Đối với phần luận t i của đại diện Viện kiểm sát về t i danh, khung hình phạt, ị cáo không có ý kiến tranh luận, yêu cầu H i đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, ị cáo đã ăn năn hối cải về hành vi phạm t i vừa qua.

Bị hại Trần Thị Ngọc C vắng mặt tại phiên tòa nh ng quá trình điều tra, trình bày: Năm 2011, chị C và bị cáo quen biết và nhiều lần quan hệ tình dục với nhau. Năm 2012, gia đình iết sự việc nên có tổ chức lễ c ới cho cả hai và chung sống nh v chồng cho đến khi sinh đ c bé trai tên Trần Hoàng B, sinh ngày 27/9/2012 thì hai không sống chung với nhau nữa. Qua sự việc này, chị C không yêu cầu bị cáo bồi th ng thiệt hại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo (BL 96 – 103).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở n i dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đ c tranh tụng tại phiên tòa, H i đồng xét xử nhận định nh sau:

Về áp dụng pháp luật

Bị cáo thực hiện t i phạm năm 2011, hành vi phạm t i của ị cáo có khung hình phạt từ 03 năm đến 10 năm và th i hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ị cáo là 15 năm theo quy định điểm c khoản 2 Điều 27 B luật Hình sự năm 2015. Nh vậy, tính đến ngày hành vi phạm t i của ị cáo ị phát hiện, điều tra, khởi tố là đúng quy định pháp luật. Ngoài ra, đối chiếu khoản 2 Điều 116 B luật Hình sự năm 1999 đ c sửa đổi, ổ sung 2009 (B luật Hình sự có hiệu lực tại th i điểm ị cáo phạm t i) và khoản 2 Điều 145 B luật Hình sự năm 2015 đ c sửa đổi, ổ sung năm 2017 có khung hình phạt t ơng đồng. Do đó, việc các Cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng B luật Hình sự năm 2015 đ c sửa đổi, ổ sung năm 2017 và Nghị quyết số 41 ngày 20/6/2017 của Quốc h i về việc thi hành B luật hình sự 2015 để điều tra, khởi tố và xét xử là phù h p theo quy định pháp luật.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của B luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa ị cáo thừa nhận hành vi phạm t i, không kêu oan, không khiếu nại.

Về thủ tục tố tụng

Bị hại Trần Thị Ngọc C đ c Tòa án triệu tập h p lệ nh ng vắng mặt tại phiên tòa. Đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến về việc vắng mặt của ị hại và đề nghị H i đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án. Xét thấy, Cơ quan điều tra đã tiến hành lấy l i khai và làm rõ các tình tiết trong vụ án, ị hại không yêu cầu ồi th ng dân sự nên việc vắng mặt của ị hại không làm ảnh h ởng đến việc xét xử. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 292 B luật tố tụng hình sự 2015, H i đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về trách nhiệm hình sự

Từ tháng 7/2011 đến cuối năm 2013, ị cáo Phạm Kiến D đã nhiều lần thực hiện hành vi giao cấu với Trần Thị Ngọc C, sinh ngày 20/3/1997 dẫn đến nạn nhân có thai và sinh đ c é trai tên Trần Hoàng B, sinh ngày 27/9/2012. L i khai nhận t i của ị cáo tại phiên tòa hôm nay phù h p với l i khai của ị cáo tại Cơ quan điều tra, phù h p với l i khai của ng i ị hại, phù h p với kết luận giám định số 4570/20/C09B ngày 25/9/2020 của Phân viện khoa học hình sự - B Công an tại Thành phố Hồ Chí Minh cùng các chứng cứ khác đ c thu thập trong quá trình điều tra vụ án.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị xử phạt ị cáo Phạm Kiến D từ 03 năm đến 04 năm tù. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về t i danh, khung hình phạt là có căn cứ nên đ c H i đồng xét xử xem xét. Nh vậy, hành vi của ị cáo đã đủ yếu tố cấu thành t i “Giao cấu với ng i từ đủ 13 đến d ới 16 tuổi”, t i phạm và hình phạt đ c quy định tại Điều 145 B luật hình sự năm 2015 đ c sửa đổi, ổ sung năm 2017.

Về tính chất mức đ của hành vi phạm t i

Trẻ em có vai trò quan trọng đối với gia đình và xã h i, là nơi gửi gắm những ớc mơ, niềm tin và sự hãnh diện của cha mẹ. Vì vậy, những quy định bằng pháp luật để ảo vệ trẻ em, nhân dân cũng tự hình thành các quan hệ đạo đức nhằm ảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.

Th i gian gần đây, tình hình t i phạm xâm hại tình dục trẻ em xảy ra ngày càng nhiều, diễn iến phức tạp và đ c toàn xã h i quan tâm. Tại th i điểm phạm t i, ị cáo là ng i thành niên, khoẻ mạnh, nhận thức đ c hành vi của ản thân. Tuy nhiên, bị cáo đã l i dụng sự ch a chín chắn trong nhận thức về tình yêu, tình dục, việc quản lý không nghiêm khắc của gia đình nên đã cố ý thực hiện hành vi giao cấu với em C nhiều lần dẫn đến nạn nhân mang thai và sinh con, mặc dù em C tự nguyện, không ị c ỡng ép nh ng vì để thỏa mãn dục vọng ản năng, ị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền về nhân thân cũng nh quyền trẻ em đ c pháp luật ảo vệ. Hành vi phạm t i của ị cáo là rất nghiêm trọng, làm ảnh h ởng đến sức khỏe và sự phát triển ình th ng về thể chất, tinh thần, danh dự, nhân phẩm của ị hại, tạo d luận xấu tại địa ph ơng. Do đó, cần xử phạt nghiêm, cách ly ị cáo khỏi đ i sống xã h i m t th i gian để giáo dục, cải tạo ị cáo trở thành công dân iết tôn trọng pháp luật, đồng th i răn đe phòng ngừa chung.

Trong vụ án này, cần giáo dục vai trò, trách nhiệm của gia đình ị hại là ông Trần Văn H, à Huỳnh Thị M trong việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con. Ông H, bà M không quan tâm, chia sẻ, giáo dục giới tính cho em C, iết rõ em C còn đang trong đ tuổi trẻ em nh ng gia đình vẫn tổ chức lễ c ới, tạo điều kiện cho cả hai sống chung với nhau cùng nhà dẫn đến em C mang thai và sinh con, điều này thể hiện sự xem th ng pháp luật, tổ chức tảo hôn trong tr ng h p lấy v , lấy chồng khi m t ên ch a đủ tuổi kết hôn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Điều 183 B luật Hình sự năm 2015 là hành vi vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, ông H, bà M ch a ị xử phạt hành chính về t i “Tổ chức tảo hôn” nên ch a đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi này. Do đó, đề nghị chính quyền địa ph ơng nhắc nhở, giáo dục pháp luật đối với ông H, bà M để phòng ngừa các tr ng h p t ơng tự.

Về nhân thân và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Bị cáo không có tiết tình tăng nặng trách nhiệm hình sự đ c quy định Điều 52 B luật Hình sự năm 2015. Tuy nhiên, ị cáo có 02 tình tiết nặng định khung là phạm t i 02 lần trở lên, làm nạn nhân có thai theo quy định tại điểm a, d khoản 2 Điều 145 B luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, ổ sung năm 2017 theo đề nghị truy tố là có căn cứ.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 B luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, ổ sung năm 2017, thu c tr ng h p ng i phạm t i, thành khẩn khai áo, ăn năn hối cải và ị hại có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho ị cáo. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát có căn cứ, phù h p với quy định pháp luật nên đ c H i đồng xét xử xem xét khi áp dụng hình phạt đối với ị cáo.

Về trách nhiệm dân sự

Bị hại không yêu cầu ồi th ng về dân sự nên không xét đến.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải n p án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên ố: Bị cáo Phạm Kiến D phạm t i “Giao cấu với ng i từ đủ 13 đến d ới 16 tuổi”.

Căn cứ vào: Điểm a, d khoản 2 Điều 145, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 27, Điều 38, Điều 56 B luật Hình sự năm 2015 đ c sửa đổi, ổ sung năm 2017;

Điều 136, Điều 292 B luật Tố tụng hình sự 2015;

Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc h i về việc thi hành B luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã đ c sửa đổi, ổ sung m t số điều theo Luật số 12/2017/QH14 và về hiệu lực thi hành của B luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an th ng vụ Quốc H i về mức thu, miễn, giảm, thu, n p, quản lý và sử dụng án phí và án phí Tòa án;

Xử vắng mặt ị hại Trần Thị Ngọc C.

Tuyên xử:

[1] Về hình phạt

Xử phạt: Bị cáo Phạm Kiến D

03 ( a) năm tù.

Tổng h p hình phạt 09 (chín) tháng tù về t i “Lạm dụng tín chiếm đoạt tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 86/2020/HS-ST ngày 09/9/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Hình phạt chung u c ị cáo Phạm Kiến D phải chấp hành là 03 ( a) năm 09 (chín) tháng tù.

Th i hạn tù tính từ ngày 12/5/2020.

[2] Về án phí hình sự sơ thẩm

Bị cáo phải n p 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[3] Về quyền kháng cáo

Bị cáo đ c quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Bị hại đ c quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đ c ản án hoặc Tòa án niêm yết ản án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ