vanban.org

Bản án 135/2020/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

nhân và gia đình năm 2014; các Điều 147, 244, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm

2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh T và bị đơn bà Đặng Thị Ngọc Đ về…"
  • Tòa quyết gì? nhân và gia đình năm 2014; các Điều 147, 244, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒ A ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 135/2020/DS-ST
Ngày: 31 / 8 / 2020
“V/v tranh chấp hợp đồng dân
sự về hụi”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thái Chí Bình.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hồng;

2. Bà Nguyễn Thị Ly.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Lắm, Thư ký Tòa án nhân dân huyện

Chợ Mới, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham

gia phiên toà: Ông Lê Hoàng Vỉnh - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét

xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 37/2020/TLST-DS ngày 08 tháng

01 năm 2020 về việc “tranh chấp hợp đồng dân sự về hụi” theo Quyết định đưa

vụ án ra xét xử số: 347/2020/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 7 năm 2020, Quyết

định hoãn phiên tòa số 339/2020/QĐST-DS ngày 12 tháng 8 năm 2020, giữa các

đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh T (T), sinh năm 1974; địa chỉ: số A,

tổ A, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh An Giang; có mặt.

Bị đơn: Bà Đặng Thị Ngọc Đ, sinh năm 1992; địa chỉ: tổ B, ấp T, xã T,

huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Huỳnh Tấn B, sinh năm

1990; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và bản tự khai ngày 31/10/2019, nguyên đơn bà

Nguyễn Thị Thanh T cho rằng, bà Đặng Thị Ngọc Đ có mở dây hụi 2.000.000

đồng/tháng, loại hụi hưởng hoa hồng, có 26 hụi viên, mở ngày 20/01/2017 âm

lịch, kết thúc ngày 20/01/2019. Bà T tham gia 01 phần với tên trong danh sách hụi là “chị Tiền”. Đến kỳ mở hụi, hụi viên nào mở hụi cao nhất thì được lĩnh hụi. Chủ hụi có trách nhiệm thu tiền các hụi viên khác rồi giao cho hụi viên được lĩnh hụi và được hưởng hoa hồng. Bà T góp hụi đầy đủ đến kỳ mở hụi 20/10/2019 âm lịch (được 23 lần) thì bà Đ ngưng mở hụi. Tổng số tiền vốn mà bà T đã góp hụi là 34.580.000 đồng. Nếu tính luôn phần tiền lãi hụi mỗi tháng thì bà Đ nợ lại bà T số tiền 46.000.000 đồng.

Tuy nhiên, khi làm đơn khởi kiện, do không nhớ rõ số tiền nên bà T chỉ

yêu cầu bà Đ, ông B trả lại số tiền hụi 44.000.000 đồng. Do bà Đ và ông Huỳnh Tấn B là vợ chồng, hôn nhân vẫn tồn tại và bà Đ mở hụi lấy lợi nhuận phục vụ sinh hoạt gia đình của bà Đ, ông B nên bà T yêu cầu bà Đ, ông B liên đới trả cho bà T số tiền hụi còn nợ 44.000.000 đồng.

Trong quá trình giải quyết vụ án, vào ngày 15/6/2020, bà T rút lại một

phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu trả lãi; chỉ yêu cầu bà Đ, ông B liên đới trả số tiền vốn của dây hụi 2.000.000 đồng/tháng, mở ngày 20/01/2017 âm lịch với số tiền 34.580.000 đồng.

Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu

cầu khởi kiện là: tờ tự khai của bà Nguyễn Thị Thanh T ngày 31/10/2019; các danh sách hụi viên (bản photo); đơn yêu cầu về việc rút lại một phần yêu cầu đơn khởi kiện ngày 15/6/2020.

- Bà Đặng Thị Ngọc Đ, ông Huỳnh Tấn B đã được triệu tập hợp lệ nhưng

vẫn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.

Tại phiên tòa,

- Nguyên đơn trình bày ý kiến, yêu cầu như đã cung cấp trong giai đoạn

chuẩn bị xét xử; xác định không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để cung cấp thêm; giữ nguyên việc rút một phần yêu cầu khởi kiện. Theo đó, chỉ yêu cầu bà Đ, ông B liên đới trả tiền vốn 34.580.000 đồng của dây hụi 2.000.000 đồng/tháng, mở ngày 20/01/2017 âm lịch, không yêu cầu trả lãi.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án

trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã

thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 71 và 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Đ, ông B là phù hợp với quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Bà T có tham gia dây hụi 2.000.000 đồng/tháng,

mở ngày 20/01/2017 âm lịch do bà Đ làm chủ, có 26 hụi viên, bà T tham gia một phần, đã chầu được 44.000.000 đồng. Tháng 11/2018, bà Đ tuyên bố ngưng

hụi. Nay bà T yêu cầu bà Đ, ông B liên đới trả 34.580.000 đồng; rút lại yêu cầu

khởi kiện đối với số tiền 9.420.000 đồng.

Bà Đ được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do.

Căn cứ để bà T khởi kiện là giấy hụi do chính bà Đ lập và lời khai của

những người làm chứng Nguyễn Thị P, Huỳnh Kim Đ và Nguyễn Thị H nên có

cơ sở xác định giữa bà T, bà Đ có giao kết hợp đồng hụi. Do bà Đ tự ý ngưng

hụi, vi phạm nghĩa vụ thanh toán của chủ hụi nên bà T khởi kiện là phù hợp với

Điều 471 Bộ luật Dân sự.

Đồi với ông B, tuy không trực tiếp giao dịch với bà T nhưng khoản nợ mà

bà T yêu cầu phát sinh trong thời kỳ hôn nhân của bà Đ, ông B. Cho nên, bà T

yêu cầu ông B liên đới trả nợ là phù hợp quy định tại Điều 27 Luật Hôn nhân và

Gia đình.

Việc bà T rút lại yêu cầu khởi kiện 9.420.000 đồng thuộc quyền định đoạt

của đương sự nên đề nghị đình chỉ theo các Điều 217, 244 Bộ luật Tố tụng

dân sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 471 Bộ luật Dân sự; các Điều 217,

244 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận

yêu cầu khởi kiện của bà T; buộc bà Đ, ông B liên đới trả cho bà T số tiền

34.580.000 đồng; đình chỉ yêu cầu khởi kiện bị rút.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

* Về tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị Thanh T khởi kiện

yêu cầu bị đơn bà Đặng Thị Ngọc Đ liên đới cùng người có quyền lợi, nghĩa vụ

liên quan ông Huỳnh Tấn B trả nợ hụi. Bà Đ đang cư trú trên địa bàn huyện Chợ

Mới nên yêu cầu kiện của bà T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân

dân huyện Chợ Mới theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35

và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự: Trước khi phiên tòa được mở, bà Đ,

ông B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ 2 nhưng vẫn

vắng mặt. Cho nên, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Đ, ông B theo

quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

* Về nội dung:

Về việc xác lập và thực hiện hợp đồng:

Theo đơn khởi kiện, bà T yêu cầu bà Đ, ông B liên đới trả nợ vốn là lãi

của dây hụi 2.000.000 đồng/tháng, mở ngày 20/01/2017 âm lịch với số tiền

44.000.000 đồng.

Tuy nhiên, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bà T tự

nguyện rút lại yêu cầu khởi kiện, không tiếp tục tranh chấp đối với tiền lãi của dây hụi dây hụi 2.000.000 đồng/tháng, mở ngày 20/01/2017 âm lịch với số tiền 9.420.000 đồng.

Vì vậy, Hội đồng xét xử đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện bị rút theo

Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xem xét yêu cầu khởi kiện còn lại của bà T, thấy rằng, bà T khai, bà Đ có

làm chủ dây hụi 2.000.000 đồng/tháng, mở ngày 20/01/2017 âm lịch, kết thúc ngày 20/01/2019, gồm 26 hụi viên, bà T tham gia 01 phần với tên trong danh sách hụi là “chị Tiền”. Bà T góp hụi đầy đủ đến kỳ mở hụi 20/10/2018 âm lịch (được 23 lần) thì bà Đ ngưng mở hụi. Tổng số tiền mà bà T đã góp hụi là 34.580.000 đồng.

Trong số các tài liệu, chứng cứ do bà T cung cấp có danh sách hụi viên

thể hiện dây hụi 2.000.000 đồng/tháng, mở ngày 20/01/2017 âm lịch, có 26 hụi viên, trong đó, có hụi viên tên “chị Tiền” tại số thứ tự 18.

Người làm chứng bà Nguyễn Thị P, bà Nguyễn Thị H, ông Huỳnh Kim Đ

cung cấp, bà P, bà H, ông Đ có cùng với bà T tham gia dây hụi 2.000.000 đồng/tháng, mở ngày 20/01/2017 âm lịch, gồm 26 hụi viên, do bà Đ làm chủ. Bà T tham gia 01 phần. Khi góp hụi đến kỳ mở hụi 20/10/2018 âm lịch (được 23 lần) thì bà Đ ngưng mở hụi. Bà T chưa hốt phần hụi mà bà T tham gia. Tổng số tiền đã chầu hụi là 34.580.000 đồng.

Theo biên bản xác minh ngày 16/7/2020 do cán bộ Tòa án lập, đại diện

Ban ấp T, xã T, huyện C cung cấp, bà Đ, ông B có tham gia mở hụi tại địa phương. Đến khoảng tháng 11/2018 âm lịch, bà Đ, ông B đi khỏi địa phương, không tiếp tục khui hụi, khoảng 01 năm sau quay về.

Theo biên bản xác minh ngày 16/7/2020 do cán bộ Tòa án lập, đại diện

Công an xã T, huyện C cung cấp, cách nay (ngày 16/7/2020) khoảng 01 năm, người dân tham gia hụi do bà Đ, ông B làm chủ có đến trình báo với cán bộ xã về việc bà Đ, ông B vỡ hụi. Công an xã T có tiếp nhận hồ sơ của bà T để lấy lời khai.

Như vậy, lời khai của bà T phù hợp với danh sách hụi, thông tin do Ban

ấp T, Công an xã T, lời khai của người làm chứng bà Nguyễn Thị P, bà Nguyễn Thị H, ông Huỳnh Kim Đ.

Bên cạnh đó, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án ban hành Thông báo

số 06/TB-TA ngày 05/3/2020 yêu cầu bà Đ, ông B cung cấp lời khai và giao nộp, bổ sung tài liệu, chứng cứ liên quan đến nội dung sự việc và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng bà Đ, ông B không thực hiện.

Vì vậy, có căn cứ xác định bà T có tham gia dây hụi 2.000.000

đồng/tháng, mở ngày 20/01/2017 âm lịch do bà Đ làm chủ và bà Đ còn nợ lại bà T nợ vốn với số tiền 34.580.000 đồng.

Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Bà T yêu cầu bà Đ, ông B liên đới trả tiền vốn 34.580.000 đồng của dây

hụi 2.000.000 đồng/tháng, mở ngày 20/01/2017 âm lịch.

Xem xét yêu cầu liên đới thấy rằng, mặc dù, ông B không cùng bà Đ xác

lập hợp đồng về hụi với bà T nhưng bà Đ và ông B là vợ chồng, vẫn còn sống

chung với nhau và bà Đ sử dụng tiền thu được từ việc mở các dây hụi để phục

vụ nhu cầu thiết yếu của gia đình bà Đ, ông B. Cho nên, chấp nhận yêu cầu của

bà T về việc buộc ông B liên đới cùng bà Đ trả nợ.

Về tiền lãi chậm thanh toán, bà T không yêu cầu trả lãi là có lợi cho người

có nghĩa vụ nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Vì vậy, buộc bà Đ, ông B liên đới trả cho bà T nợ hụi với số tiền

34.580.000 đồng theo quy định tại các Điều 466, 471 Bộ luật Dân sự năm 2015,

Điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Đ, ông B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải thanh

toán cho bà Phường là 1.729.000 đồng.

Bà T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn lại cho bà T số tiền tạm

ứng án phí 1.100.000 đồng mà bà T đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 466, 471 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 27 Luật Hôn

nhân và gia đình năm 2014; các Điều 147, 244, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm

2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của

Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý

và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thanh T về

việc yêu cầu bà Đặng Thị Ngọc Đ và ông Huỳnh Tấn B liên đới trả số nợ

9.420.000 (chín triệu, bốn trăm hai mươi nghìn) đồng trong số 44.000.000 (bốn

mươi bốn triệu) đồng theo đơn khởi kiện đối với việc tranh chấp nợ lãi của dây

hụi 2.000.000 đồng/tháng, mở ngày 20/01/2017 âm lịch.

2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị

Thanh T.

Buộc bà Đặng Thị Ngọc Đ và ông Huỳnh Tấn B liên đới trả cho bà

Nguyễn Thị Thanh T số nợ hụi 34.580.000 (ba mươi bốn triệu, năm trăm tám

mươi nghìn) đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho

đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của

số tiền còn phải thi hành án theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Đặng Thị Ngọc Đ và ông Huỳnh Tấn B phải chịu 1.729.000 (một

triệu, bảy trăm hai mươi chín nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bà Nguyễn Thị Thanh T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả

cho bà Nguyễn Thị Thanh T số tiền tạm ứng án phí 1.100.000 (một triệu, một trăm nghìn) đồng mà bà T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số TU/2017/0007850 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới cấp ngày 08 tháng 01 năm 2020.

4. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bà Nguyễn Thị Thanh T có

quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Riêng thời hạn kháng cáo của bà Đặng Thị Ngọc Đ, ông Huỳnh Tấn B

được tính là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ