- Tranh chấp gì? án hình sự — ""Tàng trữ trái phép chất ma túy". - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 135/2019/HS-ST Ngày: 17/9/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trịnh Hồng Hải.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm.
2. Bà Nguyễn Thị Kim Liên.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Kim Tuyền - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Châu Hoàng Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 144/2019/TLST- HS ngày 21 tháng 8 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 149/2019/QĐXXST- HS ngày 04 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đ.V.H; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 15/5/1989; Nơi sinh: Nam Định; Nơi đăng ký HKTT: xóm X.H, xã G.X, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định; Chỗ ở trước ngày bị bắt: Sống lang thang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên Chúa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 8/12; Con ông: Đ.X.Đ, sinh năm 1961; Con bà: N.T.H (Chết); Vợ, con: không có; Tiền sự, Tiền án: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 23/5/2019 đến ngày 30/5/2019 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam cho đến ngày xét xử (có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 23/5/2019 tại khu vực bến xe An Sương thuộc ấp Đông Lân 1, xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn. Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy phối hợp cùng Đội hình sự Công an huyện Hóc Môn và Công an xã Bà Điểm phát hiện Đ.V.H có hành vi đang cất giấu ma túy trong túi quần bên trái phía trước đang mặc, Công an tiến hành kiểm tra và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng với tang vật (bút lục 54, 55).
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Đ.V.H khai nhận, nghiện ma túy từ năm 2015, số ma túy mà Công an thu giữ thì H mua ở khu vực xã Tân Thạnh Đông, huyện Củ Chi của những người không rõ lai lịch. Lúc 15 giờ ngày 23/5/2019 Hải đi xe buýt xuống xã Tân Thạnh Đông, huyện Củ Chi mua 13 tép heroin với số tiền 600.000 đồng của người thanh niên không rõ lai lịch, mục đích mua về để sử dụng, khi Hải đang tìm địa điểm để sử dụng ma túy thì bị Công an bắt giữ.
Tang vật tạm giữ:
01 hộp kim loại màu xanh bên ngoài có dòng chữ Doublemint bên trong có 13 đoạn ống hút nhựa chứa chất bột màu trắng.
Kết luận giám định số 1157/KLGĐ-H ngày 03/6/2019 của phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,5199g loại heroin.
Tại bản Cáo trạng số: 142/CT-VKS - HS ngày 20/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Đ.V.H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo: Từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng đến 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS:
Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 hộp kim loại màu xanh bên ngoài có dòng chữ Doublemint bên trong có 13 đoạn ống hút nhựa chứa chất bột màu trắng.
Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Hải phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong quá trình điều tra bị cáo Đ.V.H khai trùng khớp với bản cung, thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố.
Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo đã thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, đây là bài học cho bị cáo, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hóc Môn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, phù hợp với các quy định của pháp luật.
. Về hành vi của bị cáo bị truy tố:
Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng; Kết luận giám định, Kết luận điều tra, các bản cung, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có trong hồ sơ vụ án cũng như cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo.
Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 23/5/2019 tại khu vực bến xe An Sương thuộc ấp Đông Lân 1, xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn, bị cáo Đ.V.H đã có hành vi cất giấu 0,5199g Ma túy loại heroin mục đích để sử dụng. Công an tiến hành kiểm tra và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng với tang vật. Hành vi đó của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, vi phạm pháp luật cần phải xử lý nghiêm. Hành vi nêu trên của Đ.V.H có đủ các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
…
c....Heroin....có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05gam.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi do lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, khẳng định Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều luật đã viện dẫn ở trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, Bị cáo không bị oan sai.
. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Đ.V.H sinh ra lớn lên tại Nam định, tháng 11/2018 từ Nam Định vào thành phố Hồ Chí Minh sống lang thang tại khu vực bến xe An Sương và lao động tự do. Bị cáo bắt đầu sử dụng ma túy từ năm tháng 2015 cho đến ngày bị bắt quả tang. Hành vi cất giấu trái phép ma túy nhằm mục đích sử dụng của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trên địa bàn. Mặt khác ma túy là hiểm họa của loài người, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác nhưng xuất phát từ cuộc sống buông thả và thiếu ý thức chấp hành pháp luật Bị cáo đã đi mua ma túy cất giấu để phục vụ nhu cầu bản thân sử dụng.
Bị cáo Đ.V.H phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, phạm tội lần đầu do đó cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét tính chất và mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn tại phiên tòa là có căn cứ và phù hợp với các quy định của pháp luật.
Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của Bị cáo và cách ly Bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có thể giúp Bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
.Về hình phạt bổ sung:
Ngoài hình phạt chính Bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, song xét hoàn cảnh gia đình Bị cáo khó khăn, bản thân Bị cáo nghiện ma túy, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng các hình phạt bổ sung đối với Bị cáo.
.Về vật chứng:
01 gói niêm phong số vụ 1157/2019 có 13 đoạn ống nhựa trong đó có 0,5199g Ma túy loại heroin gửi đi giám định, sau khi giám định còn lại 0,4589 gam Heroine là vật nhà nước cấm lưu hành; 01 hộp kim loại màu xanh bên ngoài có chữ Doublemint không còn giá trị sử dụng cần tịch thu để hủy.
. Các vấn đề khác:
Bị cáo khai nguồn gốc số ma túy Cơ quan điều tra thu giữ do Bị cáo khai mua của một người thanh niên không rõ lai lịch ở khu vực xã Tân Thạnh Đông, huyện Củ Chi với số tiền 600.000 đồng, mục đích để sử dụng, nhưng Bị cáo không biết họ tên, địa chỉ nhà ở; Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra làm rõ. Vì vậy Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xử lý.
. Về án phí:
Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Hải phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Đ.V.H phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Xử phạt bị cáo: 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (23/5/2019).
2. Về vật chứng vụ án:
Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS:
* Tịch thu tiêu hủy: 0,4589 gam Heroine là vật chứng còn lại sau khi gửi đi giám định; 13 đoạn ống nhựa; 01 hộp kim loại màu xanh bên ngoài có chữ Doublemint.
3. Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Hải phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND H. Hóc Môn; - VKSND thành phố Hồ Chí Minh; - Những người tham gia tố tụng; - CA H. Hóc Môn; - Hồ sơ THA hình sự; - Chi cục THADS H. Hóc Môn; - TAND thành phố Hồ Chí Minh; - Lưu hồ sơ vụ án; - Sở tư pháp; - Lưu. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHÊN TÒA Trịnh Hồng Hải |