- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị Phương O được ly hôn với anh Mai Anh T (Giấy chứng nhận kết hôn số 157/2011, quyển số 01/2011 do Uỷ ban nhân dân phường B, quận G cấp ngày 01/7/2011 hết hiệu lực pháp luật).
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 1345/2018/HNGĐ-ST Ngày: 27- 9 - 2018 V/v tranh chấp ly hôn giữa chị O và anh T |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Thúy Duyên
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Nguyễn Anh Tuấn
Bà Đào Thị Hồng Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thảo Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 698/2018/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2018 về: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 333/2018/QĐXXST- HNGĐ ngày 10 tháng 8 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên toà số 317/2018/QĐST - HNGĐ ngày 06 tháng 9 năm 2018 giữa các đương sự:
1/ Nguyên đơn: Chị Phan Thị Phương O, sinh năm 1980; địa chỉ: Đường N, Phường B, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
2/ Bị đơn: Anh Mai Anh T, sinh năm 1979; địa chỉ: Đường N, Phường B, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 16 tháng 11 năm 2017 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Phan Thị Phương O trình bày: Chị và anh Mai Anh T chung sống với nhau vào năm 2011 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường B, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân cho đến nay, nguyên nhân do anh T không có trách nhiệm với gia đình, thường xuyên ăn nhậu, cờ bạc dẫn đến kinh tế gia đình khó khăn, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn làm ảnh hưởng đến các con và những người thân trong gia đình. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh T nên đề nghị Toà giải quyết cho chị được ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Mai Quỳnh A, sinh ngày 16/11/2013 và Mai Trâm A, sinh ngày 11/10/2015. Ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng các con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Bị đơn anh Mai Anh T: đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập đến Toà ghi tự khai nhưng hết thời hạn 15 ngày bị đơn không có ý kiến bằng văn bản và cũng không gửi cho Toà án các tài liệu liên quan đến việc giải quyết vụ án. Đồng thời, Toà án đã tiến hành tống đạt thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải; giấy triệu tập tham gia phiên họp vào ngày 11/7/2018 và 10/8/2018 nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do.
Theo kết quả xác minh ngày 18 tháng 6 năm 2018 tại Công an phường B, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện: Anh Mai Anh T, sinh năm 1979 có hộ khẩu thường trú và hiện đang cư ngụ tại Đường N, Phường B, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Do bị đơn vắng mặt nên Tòa không tiến hành hòa giải được. Vì vậy Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa:
Chị O có đơn đề nghị Tòa đưa vụ án ra xét xử vắng mặt, chị vẫn giữ nguyên yêu cầu đã trình bày trên.
Anh T vắng mặt không lý do. Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai, bị đơn vắng mặt không tham gia phiên tòa nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng, đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ vào các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, đại diện Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị Phương O được ly hôn với anh Mai Anh T.
Về con chung: Giao 02 con chung tên Mai Quỳnh A, sinh ngày 16/11/2013 và Mai Trâm A, sinh ngày 11/10/2015 cho Chị O trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh T.
Về tài sản chung, nợ chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Xét đơn kiện của chị O, Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ tranh chấp: “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn”. Do bị đơn cư trú tại quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.
Bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị O, Hội đồng xét xử nhận thấy: Căn cứ vào Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 157/2011, quyển số 01/2011 do Uỷ ban nhân dân phường B, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 01/7/2011, xác định hôn nhân giữa chị O và anh T là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Nguyên nhân chị O xin ly hôn là do anh T không có trách nhiệm với gia đình, thường xuyên ăn nhậu, cờ bạc dẫn đến kinh tế gia đình khó khăn, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc nên đã ly thân từ năm 2015. Về phía anh T, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản nhưng vẫn không đến Tòa để giải quyết những mâu thuẫn, vướng mắc trong cuộc sống vợ chồng. Như vậy chứng tỏ bản thân anh T không quan tâm đến cuộc hôn nhân này nên không có thiện chí hàn gắn, hòa giải cùng chị O đoàn tụ. Đồng thời, theo kết quả xác minh tại địa phương ngày 18/6/2018 thể hiện: Vợ chồng anh T, chị O chung sống không hạnh phúc, hiện đã ly thân và nguyên nhân mâu thuẫn như chị O trình bày trên.
Từ những phân tích trên cho thấy cuộc sống vợ chồng giữa chị O và anh T hoàn toàn không hạnh phúc, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng không thể hàn gắn được, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, khả năng đoàn tụ không có. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu xin ly hôn của chị O là chính đáng, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Mai Quỳnh A, sinh ngày 16/11/2013 và Mai Trâm A, sinh ngày 11/10/2015, chị O có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục các con. Do bị đơn vắng mặt trong quá trình Toà giải quyết vụ án nên Toà không ghi nhận được ý kiến của bị đơn về việc nuôi con. Hội đồng xét xử nhận thấy chị O có công việc làm và thu nhập ổn định, đồng thời hiện chị cũng là người trực tiếp chăm sóc con chung. Căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của các trẻ Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị O.
Đối với việc cấp dưỡng nuôi con: Chị O không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Phan Thị Phương O phải chịu án phí về ly hôn là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 Điều 147, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 278 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 51, 54, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 và Điều 85 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị Phương O được ly hôn với anh Mai Anh T (Giấy chứng nhận kết hôn số 157/2011, quyển số 01/2011 do Uỷ ban nhân dân phường B, quận G cấp ngày 01/7/2011 hết hiệu lực pháp luật).
2. Về con chung: Giao 02 con chung tên Mai Quỳnh A, sinh ngày 16/11/2013 và Mai Trâm A, sinh ngày 11/10/2015 cho chị O trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục đến tuổi trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với anh T cho đến khi chị O có yêu cầu.
Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp anh T lợi dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị O có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh T.
Vì lợi ích của con chung khi cần thiết các đương sự có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Toà giải quyết.
4. Án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng chị Phan Thị Phương O phải chịu, được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2017/0029278 ngày 23/5/2018 của Chi cục thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Chị O đã nộp đủ án phí.
Thi hành tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo:
Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND quận G, TP.HCM; - Chi cục thi hành án dân sự quận G; - UBND phường B, quận G; - Các đương sự; - Lưu VP, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Trần Thúy Duyên |