- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lèo Văn Khải - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Nghị định số 19/2018/NĐ-CP Quy định về việc tính tổng khối l…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 134/2026/HS-ST Ngày 19-5-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Mai.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Phúc
Ông Đinh Công Hiệp
- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Phương Linh – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Sơn La tham gia phiên toà: Ông Trần Thanh Quân – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 3 - Sơn La xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 135/2026/TLST-HS ngày 14/4/2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 147/2026/QĐXXST-HS ngày 05/5/2026 đối với:
- Bị cáo: Lèo Văn K; tên gọi khác: không, sinh năm 2004 tại xã N, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản P, xã N, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Đảng phái, đoàn thể: không; con ông Lèo Văn D, sinh năm 1981 và bà Quàng Thị M, sinh năm 1982; chưa có vợ con; tiền sự: Không; tiền án: có 01 tiền án. Tại bản án hình sự số 291/2023/HSST ngày 21/12/2023 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội (nay là Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Nội) xử phạt 13 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành án xong ngày 21/10/2024, chưa xóa án tích; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/01/2026 cho đến nay, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Tòng Thị T, luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh S, có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 10 giờ 30 phút ngày 13/01/2026, tại bản Pàn, xã N, tỉnh Sơn La Công an xã S và phối hợp với Công an xã N làm nhiệm vụ phát hiện bắt quả tang Lèo Văn K có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy, vật chứng thu giữ tại túi quần bên phải đang mặc của K 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa 02 viên nén màu hồng được gói bằng nilon màu trắng và 01 gói nilon màu hồng bên trong chứa chất bột liên kết màu trắng (K khai nhận là Hồng phiến và H) mục đích sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang thu giữ và niêm phong vật chứng theo quy định.
Ngày 13 tháng 01 năm 2026 tại Công an xã S thành lập hội đồng mở niêm phong, cân tịnh vật chứng, trích mẫu giám định, niêm phong mẫu giám định kết quả: 02 viên nén màu hồng nghi là Methamphetamine có khối lượng 0,19 gam, trích hết làm mẫu gửi giám định ký hiệu K1. Số bột liên kết màu trắng nghi là H có khối lượng 0,27 gam, trích hết làm mẫu gửi giám định ký hiệu K2.
Kết luận giám định số 261/KL-KTHS ngày 17/01/2026 của Phòng K1 Công an tỉnh S kết luận: “Mẫu ký hiệu K1 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,19 gam. Mẫu ký hiệu K2 gửi giám định là ma tuý; loại Heroine (H), có tên khoa học là D1, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và 2025) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định danh mục chất ma tuý và tiền chất. Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,27 gam”.
Quá trình giải quyết vụ án Lèo Văn K khai nhận như sau: Khoảng 06 giờ ngày 13/01/2026, Lèo Văn K đi bộ từ nhà đến bản L, cùng xã N, tỉnh Sơn La để đi bắn chim. Đến bản Lọng Nghịu, K gặp một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết đang chặt cây ven đường, qua trò chuyện người đàn ông bảo K chặt cây giúp sẽ trả công bằng ma túy thì K đồng ý. Sau khi chặt cây xong, người đàn ông lấy trong túi ra đưa cho K 01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa 02 viên H1 phiến và 01 túi nilon màu hồng bên trong chứa H, K nhận ma túy rồi đi bộ về nhà. Trên đường về, K trích một ít Heroine ra sử dụng bằng hình thức đốt hít qua đường hô hấp vào cơ thể, số ma túy còn lại K cất vào trong túi quần bên phải đang mặc rồi đi bộ về nhà. Đến 10 giờ 30 phút cùng ngày, K về đến khu vực bản P, xã N thì bị tổ công tác của Công an xã S và Công an xã N làm nhiệm vụ phát hiện bắt quả tang.
Tại bản cáo trạng số: 85/CT-VKSSL-KV ngày 13/4/2026, của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Sơn La đã truy tố bị cáo Lèo Văn K về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự
Tại phiên toà, bị cáo Lèo Văn K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Sơn La trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh; điều luật áp dụng và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Lèo Văn K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249 điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lèo Văn K từ 03 năm 06 tháng đến 03 năm 10 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong do Bưu điện V phát hành, bên trong có 02 mảnh nilon màu trắng, 01 mảnh nilon màu hồng.
Về án phí: Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Người bào chữa và bị cáo cùng ý kiến: Nhất trí với phần luận tội của kiểm sát viên về tội danh, điều luật, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và các vấn đề khác, xin được hưởng mức án thấp nhất theo đề nghị của viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất ân hận và nhận ra lỗi lầm của mình, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an tỉnh S, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 –Sơn La, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Người tham gia tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tình tiết định tội, định khung hình phạt:
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, vẫn giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra, không thay đổi, bổ sung nội dung gì, hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Sơn La. Bị cáo khẳng định khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa về thời gian, địa điểm, diễn biến hành vi phạm tội phù hợp với: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Kết luận giám định của Phòng K1 Công an tỉnh S kết luận; Các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung bị can; Biên bản ghi lời khai của người chứng kiến và phù hợp với các chứng cứ khác trong hồ sơ. Từ những căn cứ nêu trên có đủ cơ sở kết luận:
Hồi 10 giờ 30 phút ngày 13/01/2026 tại bản Pàn, xã N, tỉnh Sơn La bị cáo Lèo Văn K có hành vi cất giấu trái phép 0,27 gam Heroine, 0,19 gam Methamphetamine. Căn cứ Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02 tháng 02 năm 2018 của Chính phủ xác định tổng khối lượng ma túy bị cáo cất giữ trái phép với mục đích sử dụng cho bản thân là 0,46 gam. Hành vi của Lèo Văn K đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Sơn La truy tố bị cáo về tội danh nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật [3] Xét về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm về hình sự, biết rõ chất ma túy là chất Nhà nước cấm mua bán, sử dụng, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội, tiếp tay cho các đối tượng hám lời có cơ hội lưu thông buôn bán ma túy.
Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại bản án hình sự số 291/2023/HSST ngày 21/12/2023 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội (nay là Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Nội) xử phạt 13 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội. Lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo không lấy tiền án này làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội nên cần có hình phạt nghiêm khắc với bị cáo.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, bị cáo thành khẩn khai báo, tại phiên tòa tỏ ra ăn năn hối cải về việc đã làm; nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phần nào đối với bị cáo.
Từ sự phân tích trên, căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự để xử hình phạt tù có thời hạn, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong thời hạn từ 03 năm đến 05 năm để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiệm ma túy, không có tài sản riêng, không có khả năng thi hành nên không áp dụng.
Vật chứng vụ án:
Đối với 01 phong bì thư niêm phong do Bưu điện V phát hành, bên trong có 02 mảnh nilon màu trắng, 01 mảnh nilon màu hồng là vật hết giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 2 khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Các vấn đề khác
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy: Kết quả xét nghiệm Lèo Văn K dương tính với chất ma túy loại Methamphetamine và Heroine. Tuy nhiên phiếu xác nhận thông tin của UBND xã N xác định Lèo Văn K không thuộc các trường hợp chủ thể quy định tại khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự nên không xử lý là đúng quy định.
Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo khai được người đàn ông dân tộc Mông không rõ danh tính tại khu vực bản L, xã N, tỉnh Sơn La trả công sau khi chặt cây ven đường. Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ để mở rộng điều tra là đúng quy định, buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tổng khối lượng ma tuý đã thu giữ trong vụ án.
Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh ở khu vực có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa xin miễn án phí. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban vụ Quốc hội: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lèo Văn K phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt 03 (ba) năm 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/01/2026.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền với bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án:
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong do Bưu điện V phát hành, bên trong có 02 mảnh nilon màu trắng, 01 mảnh nilon màu hồng
(Mô tả chi tiết theo Quyết định chuyển vật chứng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Sơn La; biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra công an tỉnh S và Phòng thi hành án dân sự khu vực 03 - Sơn La).
3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban vụ Quốc hội: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng Hình sự:
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 19 tháng 5 năm 2026).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND cùng cấp (02 bản); - Cơ quan thi hành án Hình sự Công an tỉnh Sơn La; - Công an tỉnh Sơn La; - Phòng thi hành án dân sự khu vực 3 - Sơn La; - Người tham gia tố tụng; - Trại tạm giam công an tỉnh Sơn La; - Lưu án văn; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Mai |