vanban.org

Bản án 134/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 10 - Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 27/05/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Tấn L phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”

Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu giao Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Tây Ninh xử lý theo thẩm quyền: 01 khẩu súng ký hiệu là A1, bắn đạn ghém cỡ nòng 12. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "BA L - chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự (điều 304 Lu…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh Tấn L phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10 - TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 134/2026/HS-ST
Ngày 27-5-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Tấn Thời.

2. Ông Lê Văn Thuận.

- Thư ký phiên tòa: Bà Tạ Thị Thảo Vy là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10 - Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Thái Thị Thủy Tiên và bà Phan Thanh Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 - Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 103/2026/TLST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 125/2026/QÐXXST-HS ngày 11 tháng 5 năm 2026 đối với bị cáo:

Huỳnh Tấn L, sinh năm 1985, tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: khu phố N, phường B, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Cao đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn D (chết) và bà Lê Thị H1; có vợ là Huỳnh Thị S và 01 con; tiền án, tiền sự: Không có; đang chấp hành án tại Phân trại tạm giam Bình Minh thuộc Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Tây Ninh. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng cuối tháng 4/2025, Huỳnh Tấn L đi giao nông sản tại chợ đầu mối T, Thành phố Hồ Chí Minh thì gặp đối tượng tên “L1” chưa rõ nhân thân, lai lịch có mang theo 01 khẩu súng bằng kim loại (súng bắn đạn hoa cải) và 04 viên đạn màu xanh nên xin mang về để phòng thân. Sau khi có được súng, đạn, L đem cất giấu trong túi vải bố tại nơi ở thuộc ấp T, xã T, thành phố T, tỉnh Tây Ninh (nay là khu phố T, phường B, tỉnh Tây Ninh).

Đến khoảng 17 giờ ngày 08/5/2025, L bị bắt khẩn cấp về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”. Qua khám xét khẩn cấp chỗ ở của L tại ấp T, xã T, thành phố T, tỉnh Tây Ninh (nay là khu phố T, phường B, tỉnh Tây Ninh) thu giữ 01 khẩu súng (loại súng bắn đạn hoa cải) dài khoảng 60cm, tay cầm và ốp tay được làm bằng gỗ, nòng súng bằng kim loại dài khoảng 40cm và 04 viên đạn hình trụ tròn, mỗi đoạn dài khoảng 5cm, có 01 đầu màu xanh, trên thân có ghi ký hiệu “RC2”, một đầu được ốp kim loại màu vàng, phía trên ốp kim loại có ghi ký tự số “12” và hình ngôi sao nhỏ.

Tại Kết luận giám định số 3254/KL-KTHS, ngày 31/7/2025 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:

- 01 khẩu súng ký hiệu A1 là vũ khí quân dụng, thuộc loại linh kiện cơ bản của súng bắn đạn ghém cỡ nòng 12 (theo điểm e, Khoản 2, Điều 2, Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ 2024).

- 04 viên đạn ký hiệu A2 là vũ khí quân dụng, thuộc loại đạn ghém cỡ 12, sử dụng cho các loại súng bắn đạn ghém cỡ nòng 12.

Hoàn lại đối tượng giám định: 01 khẩu súng ký hiệu A1; 04 viên đạn ghém cỡ 12 đã dùng để bắn thực nghiệm, không hoàn trả.

Đối với đối tượng tên L1 đã giao súng, đạn cho L, hiện chưa xác định nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ xử lý.

Cáo trạng số: 66/CT-VKSTN-P1 ngày 22 tháng 4 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Huỳnh Tấn L về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Tây Ninh trong phần tranh luận đã giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh nêu trên đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

- Căn cứ khoản 1 Điều 304, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Huỳnh Tấn L từ 18 tháng đến 24 tháng tù.

- Căn cứ Điều 56 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt của Bản án số 66/2026/HS-ST ngày 19/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Tây Ninh và Thông báo sửa chữa, bổ sung bản án số 27/2026/TB-TA ngày 23/4/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Tây Ninh xử phạt bị cáo Huỳnh Tấn L 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định.

- Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xử lý vật chứng theo quy định.

Bị cáo thống nhất với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến bào chữa cho mình.

Lời nói sau cùng của bị cáo Huỳnh Tấn L: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Tây Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình theo đúng nội dung bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản khám xét, kết luận giám định cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án chứng minh được: khoảng cuối tháng 4/2025, bị cáo tàng trữ 01 khẩu súng và 04 viên đạn là vũ khí quân dụng tại nơi ở thuộc ấp T, xã T, thành phố T, tỉnh Tây Ninh (nay là khu phố T, phường B, tỉnh Tây Ninh). Đến ngày 08/5/2025, bị cáo L bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T bắt khẩn cấp về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” và tiến hành khám xét chỗ ở, thu giữ súng và đạn nêu trên. Do đó, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Huỳnh Tấn L phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo về tội phạm nêu trên là có căn cứ.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với việc quản lý vũ khí quân dụng nên phải chịu trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội nên cần xử lý nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt, nhằm đạt được mục đích giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội. Bị cáo đang chấp hành Bản án số 66/2026/HS-ST ngày 19/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Tây Ninh và Thông báo sửa chữa, bổ sung bản án số 27/2026/TB-TA ngày 23/4/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Tây Ninh xử phạt bị cáo 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” nên căn cứ Điều 56 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt của nhiều bản án đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đối với 01 khẩu súng ký hiệu là A1, bắn đạn ghém cỡ nòng 12: Đây là vũ khí quân dụng nên cần tịch thu giao Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Tây Ninh xử lý theo thẩm quyền.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Huỳnh Tấn L phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”

Căn cứ khoản 1 Điều 304, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Huỳnh Tấn L 03 (ba) năm tù.

Căn cứ Điều 56 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt của Bản án số 66/2026/HS-ST ngày 19/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Tây Ninh và Thông báo sửa chữa, bổ sung bản án số 27/2026/TB-TA ngày 23/4/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Tây Ninh xử phạt bị cáo Huỳnh Tấn L 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”: Buộc bị cáo Huỳnh Tấn L phải chấp hành hình phạt chung là 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/5/2025.

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu giao Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Tây Ninh xử lý theo thẩm quyền: 01 khẩu súng ký hiệu là A1, bắn đạn ghém cỡ nòng 12.

(Vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Tây Ninh theo biên bản bàn giao súng pháo, khí tài ngày 03/4/2026).

3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.

Bị cáo Huỳnh Tấn L phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ