vanban.org

Bản án 134/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 10 - Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ Tuyên án 20/07/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Tạ Ngọc D phạm tội “Đánh bạc”.

Bị cáo Tạ Ngọc D 03 (Ba) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (Năm) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Tạ Ngọc D cho Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tạ Ngọc D - đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Tạ Ngọc D phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10 – PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 134/2026/HS-ST
Ngày 20 - 7 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Phượng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đinh Quang Thọ

2. Ông Trần Đình Chiến

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Văn Tiệp - Thư ký Tòa án nhân nhân khu vực 10 - Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Phú Thọ tham gia phiên toà: Ông Đặng Anh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 - Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 129/2026/TLST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 148/2026/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2026 đối với bị cáo:

Tạ Ngọc D, sinh ngày 26 tháng 3 năm 2003 tại xã T, tỉnh Phú Thọ; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Thôn Y, xã T, tỉnh Phú Thọ; số CCCD:026203003617; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn thể: Không; con ông Tạ Văn C, sinh năm 1978 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1982; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại tại địa phương. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng cuối tháng 9 năm 2025, thông qua mạng xã hội Facebook, Tạ Ngọc D biết trang web đánh bạc trực tuyến “Sun.win” có nhiều trò chơi được thua bằng tiền như T xỉu, Xóc đĩa, S, T1 lên miền N, P, P1, Xì tố, L và Sicbo Tài P2. Ngày 29/9/2025, D sử dụng điện thoại di động Apple iPhone 13 Pro Max, số IMEI 1: 354786256424587, số IMEI 2: 354786255661544, bên trong lắp sim số thuê bao 0986.935.862 của D, kết nối Internet truy cập trang web có đường dẫn chính http://sun.win và đường dẫn đăng nhập http://web.sunwin.sx.

Sau khi truy cập, D đăng ký tài khoản đánh bạc, lấy tên nhân vật hiển thị là “chimtoq”, mã ID 319242839, đồng thời liên kết tài khoản này với tài khoản ngân hàng S1 mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần C2 (V1) đứng tên D để thực hiện việc nạp và rút tiền. D cài đặt chế độ lưu mật khẩu, duy trì đăng nhập nên trong các ngày tiếp theo liên tục truy cập tài khoản để chơi “Sicbo T phú” và “T xỉu”.

Khi nạp tiền, D sử dụng hình thức “Codepay”, chọn ngân hàng, nhập số tiền, tạo mã thanh toán rồi chuyển tiền từ tài khoản ngân hàng của mình đến tài khoản trung gian do hệ thống tự động cung cấp. Khi rút tiền, D vào mục “Rút tiền”, chọn “Ngân hàng”, tiền được chuyển qua các tài khoản trung gian về tài khoản của D. Tỷ lệ quy đổi là 1:1, mỗi 01 đồng nạp vào tương ứng 01 điểm trong tài khoản đánh bạc và mỗi 01 điểm rút ra tương ứng 01 đồng.

Cụ thể, các lần nạp và rút tiền được xác định như sau:

Ngày 29/9/2025: D thực hiện 04 lần nạp tiền và 01 lần rút tiền.

Hồi 13 giờ 03 phút, D sử dụng tài khoản số 104873698220mở tại Ngân hàng TMCP C2 (V1) đứng tên mình, chuyển 200.000 đồng đến tài khoản số 1051005102 mở tại Ngân hàng TMCP N (V2), đứng tên Trần Hữu B1 để nạp tiền vào tài khoản đánh bạc. D sử dụng toàn bộ số tiền này để đánh bạc và bị thua hết.

Hồi 13 giờ 36 phút, D chuyển 200.000 đồng đến tài khoản số 1088834868099 mở tại V1, đứng tên Nguyễn Trí D1 để nạp tiền vào tài khoản đánh bạc. D sử dụng số tiền này để đánh bạc. Đến 14 giờ 07 phút cùng ngày, D thực hiện lệnh rút 500.000 đồng; hệ thống chuyển tiền qua tài khoản số 000009842194 được xác định trong lịch sử giao dịch là tài khoản mở tại Ngân hàng TMCP Đ2 (S2), đứng tên Đoàn Quốc T2, rồi chuyển 500.000 đồng vào tài khoản số 104873698220 của D.

Hồi 15 giờ 24 phút, D chuyển 200.000 đồng đến tài khoản số 103883718943 mở tại V1, đứng tên Đường Thị T3 để nạp tiền; D sử dụng toàn bộ số tiền này đánh bạc và bị thua hết.

Hồi 23 giờ 22 phút, D chuyển 200.000 đồng đến tài khoản số 1056416794 mở tại V2, đứng tên Ngô Đình D2 để nạp tiền; D sử dụng toàn bộ số tiền này đánh bạc và bị thua hết.

Ngày 30/9/2025: D tiếp tục thực hiện 13 lần nạp tiền và 04 lần rút tiền.

Hồi 00 giờ 06 phút, D chuyển 500.000 đồng đến tài khoản số 1047214450 mở tại V2, đứng tên Nguyễn Ánh H để nạp tiền; D sử dụng toàn bộ số tiền này đánh bạc và bị thua hết.

Hồi 00 giờ 17 phút, D chuyển 1.500.000 đồng đến tài khoản số 1054528411 mở tại V2, đứng tên Hoàng Đức C1 để nạp tiền vào tài khoản đánh bạc. Đến 02 giờ 57 phút cùng ngày, D rút 4.120.000 đồng;số tiền này được chuyển từ tài khoản số 403903647 mở tại Ngân hàng TMCP V3 (V4), đứng tên Bùi Thị Phương T4 vào tài khoản của D.

Hồi 06 giờ 23 phút, D chuyển 200.000 đồng đến tài khoản số 9969951944 mở tại V2, đứng tên Vũ Cao T5 để nạp tiền. Đến 06 giờ 42 phút cùng ngày, D rút 450.000 đồng; số tiền này được chuyển từ tài khoản số 000004377584 mở tại Ngân hàng TMCP V5 (V6), đứng tên Ngô Lý Quân V vào tài khoản của D.

Hồi 08 giờ 27 phút, D tiếp tục chuyển 250.000 đồng đến tài khoản số 9969951944 mở tại V2, đứng tên Vũ Cao T5 để nạp tiền; D sử dụng toàn bộ số tiền này đánh bạc và bị thua hết.

Hồi 08 giờ 43 phút, D chuyển 500.000 đồng đến tài khoản số 1056501641 mở tại V2, đứng tên Phan Thanh P3 để nạp tiền; D sử dụng toàn bộ số tiền này đánh bạc và bị thua hết.

Hồi 09 giờ 20 phút, D chuyển 1.000.000 đồng đến tài khoản số 1057239825 mở tại V2, đứng tên Nguyễn Anh K để nạp tiền. Đến 10 giờ 11 phút cùng ngày, D rút 5.000.000 đồng; số tiền này được chuyển từ tài khoản số 380001060006496 mở tại Ngân hàng TMCP B3 (B4), đứng tên Lê Thị H1 vào tài khoản của D.

Hồi 11 giờ 45 phút, D chuyển 1.000.000 đồng đến tài khoản số 1053041905 mở tại V2, đứng tên Nguyễn Trường G để nạp tiền; D sử dụng toàn bộ số tiền này đánh bạc và bị thua hết.

Hồi 12 giờ 05 phút, D chuyển 2.000.000 đồng đến tài khoản số 1058713074 mở tại V2, đứng tên Nguyễn Hải Đ để nạp tiền; D sử dụng toàn bộ số tiền này đánh bạc và bị thua hết.

Hồi 12 giờ 19 phút, D chuyển 2.000.000 đồng đến tài khoản số 1039863502 mở tại V2, đứng tên Trần Đ1 để nạp tiền; D sử dụng toàn bộ số tiền này đánh bạc và bị thua hết.

Hồi 13 giờ 37 phút, D chuyển 900.000 đồng đến tài khoản số 0881000483735 mở tại V2, đứng tên Nguyễn Thị Mai A để nạp tiền; D sử dụng toàn bộ số tiền này đánh bạc và bị thua hết.

Hồi 13 giờ 49 phút, D chuyển 1.000.000 đồng đến tài khoản số 1051005102 mở tại V2, đứng tên Trần Hữu B1 để nạp tiền; D sử dụng toàn bộ số tiền này đánh bạc và bị thua hết.

Hồi 17 giờ 05 phút, D chuyển 1.000.000 đồng đến tài khoản số 1056394893 mở tại V2, đứng tên Nguyễn Trường K1 để nạp tiền. Đến 19 giờ 50 phút cùng ngày, D rút 3.090.000 đồng; số tiền này được chuyển từ tài khoản số 4450396014757 mở tại Ngân hàng TMCP V3 (P5), đứng tên Trần Quang T6 vào tài khoản của D.

Hồi 23 giờ 23 phút, D chuyển 1.800.000 đồng đến tài khoản số 1056212844 mở tại V2, đứng tên Nguyễn Văn L1 để nạp tiền; D sử dụng toàn bộ số tiền này đánh bạc và bị thua hết.

Hồi 23 giờ 54 phút, D chuyển 500.000 đồng đến tài khoản số 1057132251 mở tại V2, đứng tên Nguyễn Thị T7 để nạp tiền. Đến 01 giờ 17 phút ngày 01/10/2025, D rút 10.000.000 đồng; số tiền được chuyển từ tài khoản số 102883852809 mở tại V1, đứng tên Đặng Thị Ngọc B2 vào tài khoản của D. Đến 02 giờ 49 phút cùng ngày, D tiếp tục rút 200.000 đồng; số tiền được chuyển từ tài khoản số 100280591 mởtại Ngân hàng TMCP X (E), đứng tên Trần Nguyễn Quốc T8 vào tài khoản của D.

Ngày 01/10/2025: ngoài hai lần rút tiền nêu trên, D thực hiện thêm 02 lần nạp tiền.

Hồi 02 giờ 46 phút, D chuyển 1.000.000 đồng đến tài khoản số 1045094326 mở tại V2, đứng tên Phạm Văn P4 để nạp tiền; D sử dụng toàn bộ số tiền này đánh bạc và bị thua hết.

Hồi 12 giờ 30 phút, D chuyển 500.000 đồng đến tài khoản số 19916971 mở tại Ngân hàng TMCP Á (A1), đứng tên Bùi Đức H2 để nạp tiền và tiếp tục sử dụng số tiền này đánh bạc.

Đến khoảng 15 giờ 20 phút ngày 01/10/2025, khi D đang ngồi tại quán Internet “G1” ở thôn V, xã Y, tỉnh Phú Thọ do anh Lê Tùng L2 làm chủ, sử dụng chiếc điện thoại iPhone 13 Pro Max nêu trên để đánh bạc trực tuyến thì Tổ công tác Công an xã Y kiểm tra, phát hiện. Công an xã Y lập biên bản, kiểm tra điện thoại xác định trang web http://web.sunwin.sx đang mở, màn hình hiển thị tên nhân vật “chimtoq”; số dư trong tài khoản đánh bạc tại thời điểm kiểm tra là 740 điểm, tương đương 740 đồng; đồng thời tạm giữ điện thoại, sim số thuê bao 0986.935.862 và 2.500.000 đồng.

Như vậy, trong các ngày 29/9/2025, 30/9/2025 và 01/10/2025, D đã thực hiện 19 lần nạp tiền với tổng số tiền 16.450.000 đồng và 07 lần rút tiền với tổng số tiền 23.360.000 đồng; tổng số tiền được xác định sử dụng vào việc đánh bạc là 39.810.000 đồng. Số tiền D rút nhiều hơn số tiền nạp là 6.910.000 đồng; trong đó 2.500.000 đồng đã bị thu giữ, còn 4.410.000 đồng D khai đã chi tiêu cá nhân.

Về trang mạng “Sun.win”, Trung tâm I xác định tên miền sun.win là tên miền quốc tế do tổ chức nước ngoài cấp và quản lý; Trung tâm I không có thông tin về chủ thể đăng ký, quản lý website. Cục P6, truyền hình và thông tin điện tử xác nhận không thẩm định, cấp phép hoạt động cho website “Sun.win”.

Đối với chiếc điện thoại bị thu giữ, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trưng cầu Phòng K2 Công an tỉnh P giám định kỹ thuật số điện tử. Kết luận giám định xác định đã chụp, trích xuất được 214 ảnh màn hình thể hiện giao diện trò chơi, thông tin tài khoản, lịch sử nạp tiền, rút tiền và lịch sử đặt cược; dữ liệu được sao lưu vào 01 đĩa DVD có chữ ký của giám định viên. Bị cáo đã được thông báo kết luận giám định, đồng ý và không có ý kiến thắc mắc.

Kết quả xác minh các tài khoản ngân hàng và người đứng tên tài khoản trung gian: Tài khoản số 104873698220 mở tại V1 được xác định là tài khoản của Tạ Ngọc D, được D liên kết với tài khoản đánh bạc “chimtoq” để thực hiện toàn bộ các giao dịch nạp và rút tiền. Các tài khoản nhận tiền nạp từ D gồm: số 1052005102 và số 1051005102 tại V2 đứng tên Trần Hữu B1; số 108883486809 tại V1 đứng tên Nguyễn Trí D1; số 103883718943 tại V1 đứng tên Đường Thị T3; số 1056416794 tại V2 đứng tên Ngô Đình D2; số 1047214450 tại V2 đứng tên Nguyễn Ánh H; số 1054528411 tại V2 đứng tên Hoàng Đức C1; số 9969951944 tại V2 đứng tên Vũ Cao T5; số 1056501641 tại V2 đứng tên Phan Thanh P3; số 1057239825 tại V2 đứng tên Nguyễn Anh K; số 1053041905 tại V2 đứng tên Nguyễn Trường G; số 1039863502 tại V2 đứng tên Trần Đ1; số 0881000483735 tại V2 đứng tên Nguyễn Thị Mai A; số 1056394893 tại V2 đứng tên Nguyễn Trường K1; số 1056212844 tại V2 đứng tên Nguyễn Văn L1; số 1057132251 tại V2 đứng tên Nguyễn Thị T7; số 1045094326 tại V2 đứng tên Phạm Văn P4 và số 19916971 tại A1 đứng tên Bùi Đức H2.

Các tài khoản trung gian chuyển tiền về tài khoản của D gồm: số 000009842194 được thể hiện trong lịch sử giao dịch là tài khoản tại S2 đứng tên Đoàn Quốc T2, chuyển 500.000 đồng; số 403903647 tại V4 đứng tên Bùi Thị Phương T4, chuyển 4.120.000 đồng; số 000004377584 tại V6 đứng tên Ngô Lý Quân V, chuyển 450.000 đồng; số 380001060006496 tại B4 đứng tên Lê Thị H1, chuyển 5.000.000 đồng; số 4450396014757 tại P5 đứng tên Trần Quang T6, chuyển 3.090.000 đồng; số 102883852809 tại V1 đứng tên Đặng Thị Ngọc B2, chuyển 10.000.000 đồng và số 100280591 tại E đứng tên Trần Nguyễn Quốc T8, chuyển 200.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 88/CT-VKSKV10 ngày 24 tháng 6 năm 2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Phú Thọ truy tố bị cáo Tạ Ngọc D về tội “Đánh bạc” theo điểm c khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà Kiểm sát viên phát biểu luận tội đối với bị cáo: Giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Tạ Ngọc D. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Tạ Ngọc D phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt:

Bị cáo Tạ Ngọc D 03 (Ba) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (Năm) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về hình phạt bổ sung: Phạt bổ sung bị cáo Tạ Ngọc D từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

Đề nghị xử lý vật chứng, án phí theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Tạ Ngọc D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về nội dung vụ án: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra; phù hợp với biên bản kiểm tra, thu giữ đồ vật, dữ liệu điện tử được trích xuất từ điện thoại, kết luận giám định kỹ thuật số điện tử, sao kê tài khoản ngân hàng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ căn cứ xác định: Trong các ngày 29/9/2025, 30/9/2025 và 01/10/2025, Tạ Ngọc D đã sử dụng điện thoại di động có kết nối Internet để truy cập một trang web đánh bạc trực tuyến, thực hiện nhiều lượt đặt cược được thua bằng tiền; tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 39.810.000 đồng.

Hành vi của bị cáo là hành vi đánh bạc trái phép được thực hiện trực tiếp trên môi trường mạng, sử dụng Internet và phương tiện điện tử để hình thành, duy trì tài khoản, nạp tiền, đặt cược và rút tiền thắng bạc. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” với tình tiết định khung “Sử dụng mạng Internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Hành vi của Tạ Ngọc D đã phạm vào tội “Đánh bạc” Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự. Điều luật quy định:

“ 1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền …

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

…

c) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;”

. Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự công cộng, làm phát sinh nguy cơ mất an ninh, trật tự và ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc đánh bạc được thua bằng tiền là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì mục đích có tiền chi tiêu cá nhân vẫn cố ý thực hiện. Do đó, cần áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

. Xét về hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Trước khi phạm tội, bị cáo có thành tích tự nguyện xung phong lên đường nhập ngũ năm 2023 và trong thực hiện công tác Đoàn, phong trào thanh niên khi thực hiện nghĩa vụ quân sự, được cơ quan có thẩm quyền tặng Giấy khen; đồng thời trước khi mở phiên tòa đã tự nguyện nộp số tiền 4.410.000 đồng là khoản thu lợi bất chính còn phải truy thu nên Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; có nơi cư trú rõ ràng, ổn định; ngoài lần phạm tội này luôn chấp hành chính sách, pháp luật và có thành tích trong hoạt động dân quân tự vệ, công tác Đoàn tại đơn vị quân đội. Bị cáo được hưởng một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trên cơ sở tính chất, mức độ hành vi, Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt bị cáo mức khởi điểm của khung hình phạt là 03 năm tù. Tuy nhiên, xét bị cáo có đầy đủ điều kiện theo Điều 65 Bộ luật Hình sự; bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo cải tạo tại địa phương không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự. Do đó, chưa cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách 05 năm và giao cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng giáo dục riêng, răn đe và phòng ngừa chung.

. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội nhằm mục đích thu lợi và đã có khoản tiền thắng bạc. Vì vậy, cần áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự, phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng để sung ngân sách nhà nước. Mức phạt này phù hợp với tính chất vụ án, khoản thu lợi và điều kiện nghề nghiệp, thu nhập của bị cáo.

. Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 điện thoại di động Apple iPhone 13 Pro Max, số IMEI 1: 354786256424587, IMEI 2: 354786255661544, đã qua sử dụng: Đây là tài sản hợp pháp của bị cáo nhưng được sử dụng trực tiếp làm công cụ, phương tiện phạm tội nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

- Đối với 01 sim số thuê bao 0986.935.862 lắp trong điện thoại bị cáo không đề nghị nhận lại và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với số tiền 2.500.000 đồng cơ quan điều tra đã thu giữ: Đây là một phần tiền bị cáo thu lợi từ việc đánh bạc nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

- Đối với số tiền 4.610.000 đồng bị cáo đã tự nguyện nộp theo biên lai thu số 0000169 ngày 16/7/2026 tại Cơ quan thi hanh án dân sự tỉnh Phú Thọ. Trong đó có 4.410.000 đồng là tiền bị cáo thu lợi từ việc đánh bạc nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước; số tiền còn lại 200.000 đồng của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho các bị cáo, nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã làm việc được với một số người đứng tên tài khoản trung gian: Phan Thanh P3, người đứng tên tài khoản số 1056501641 và Trần Đ1, người đứng tên tài khoản số 1039863502, đều trình bày không đăng ký, không cho người khác mượn thông tin cá nhân để mở các tài khoản nêu trên. Ngô Lý Quân V khai có mở tài khoản số 000004377584 vào khoảng đầu tháng 3/2025 nhưng sau đó đã bán tài khoản cho người khác với giá 700.000 đồng, không biết người đang trực tiếp sử dụng tài khoản. Vũ Cao T5 xác nhận là chủ tài khoản số 9969951944, ngày 30/9/2025 có cho một người đàn ông tên T1 mượn tài khoản để nhận tiền, tài khoản đã nhận 200.000 đồng và 250.000 đồng từ tài khoản của D, sau đó T5 giao lại tổng số tiền 450.000 đồng bằng tiền mặt cho T1, T5 khai không tham gia đánh bạc trên không gian mạng. Bùi Đức H2 khai đã mở tài khoản số 19916971 tại A1 vào khoảng tháng 6/2025, sau đó bị mất điện thoại và không còn quản lý, sử dụng tài khoản này. Do đó cơ quan điều tra không xử lý những người này là phù hợp.

Đối với Trần Hữu B1, Nguyễn Trí D1, Đường Thị T3, Ngô Đình D2, Nguyễn Ánh H, Hoàng Đức C1, Nguyễn Anh K, Nguyễn Trường G, Nguyễn Thị Mai A, Nguyễn Trường K1, Nguyễn Văn L1, Nguyễn Thị T7, Phạm Văn P4, Bùi Thị Phương T4, Lê Thị H1, Trần Quang T6, Đặng Thị Ngọc B2, Trần Nguyễn Quốc T8, Nguyễn Hải Đ và người được thể hiện là Đoàn Quốc T2, Cơ quan điều tra chưa làm việc được hoặc chưa xác định được người đang trực tiếp quản lý, sử dụng tài khoản tại thời điểm phát sinh giao dịch. Tài liệu hiện có chưa đủ căn cứ xác định những người đứng tên tài khoản biết, tham gia hoặc giúp sức cho hoạt động đánh bạc của D; Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi làm rõ sẽ xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Tạ Ngọc D phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt:

Bị cáo Tạ Ngọc D 03 (Ba) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (Năm) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Tạ Ngọc D cho Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Phạt bổ sung bị cáo Tạ Ngọc D 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) để sung ngân sách nhà nước.

2. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu, phát mại nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Apple iPhone 13 Pro Max, số IMEI 1: 354786256424587, IMEI 2: 354786255661544.

- Tịch thu, thiêu hủy 01 sim điện thoại có số thuê bao 0986.935.862.

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 6.910.000 đồng (Sáu triệu chín trăm mười nghìn đồng).

- Trả lại cho bị cáo Tạ Ngọc D 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

3. Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Tạ Ngọc D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ