vanban.org

Bản án 134/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Mạnh C phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Mạnh C 06 (sáu) tháng tù. Chuyển hình phạt 36 tháng tù cho hưởng án treo tại Bản án hình sự phúc thẩm số 127/2022/HSPT ngày 13/12/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên thành hình phạt 36 tháng tù; tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chịu hình phạt chung cho cả hai bản án … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Mạnh C - đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Mạnh C phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 321 Bộ luật Hình sự; Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật hình sự số 86/…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 134/2026/HS-ST
Ngày 28-4-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Giang;

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Quang Huy.

2. Ông Lê Đình Hiệp.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Mạnh Hùng - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Lệ Xuân - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 4 năm 2026, tại Hội trường Tòa án nhân dân khu vực 1 – Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 105 /2026/TLST- HS, ngày 25 tháng 3 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 129/2026/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 4 năm 2026.

Đối với bị cáo: Nguyễn Mạnh C, sinh ngày 27/11/1994, tại Thái Nguyên. Tên gọi khác: Không;

Nơi cư trú: Tổ B, phường Q, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Khánh T, sinh năm 1961 và bà Hoàng Thị T1, sinh năm 1964; có vợ là: Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1995; có 02 con, con lớn, sinh năm 2018, con nhỏ, sinh năm 2024.

Tiền án: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 195/2022/HSST ngày 03/8/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt Nguyễn Mạnh C 36 tháng tù về tội Đánh bạc theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 127/2022/HSPT ngày 13/12/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên: Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 195/2022/HSST ngày 03/8/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên: Xử phạt Nguyễn Mạnh C 36 tháng tù cho hưởng án treo, thời hạn thử thách là 60 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (13/12/2022).

Tiền sự: Không.

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam; hiện tại ngoại, đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (có mặt).

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Vũ Hoàng V, sinh năm 2003 (có mặt);

Địa chỉ: Tổ C, phường Q, tỉnh Thái Nguyên.

2. Anh Hoàng Quang N, sinh ngày 08/9/2009 (có mặt);

Địa chỉ: Tổ dân phố V, phường L, tỉnh Thái Nguyên.

Người đại diện theo pháp luật của anh Hoàng Quang N:

Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1981 (mẹ đẻ anh N, có mặt);

Địa chỉ: Tổ dân phố V, phường L, tỉnh Thái Nguyên.

- Người chứng kiến:

1. Ông Dương Văn T3, sinh năm 1984; (vắng mặt);

Địa chỉ: Tổ G, phường Q, tỉnh Thái Nguyên.

2. Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1971 (vắng mặt);

Địa chỉ: Tổ C, phường Q, tỉnh Thái Nguyên.

3. Chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1981 (vắng mặt);

Địa chỉ: Tổ dân phố I, phường G, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 30/12/2025, Tổ công tác của Công an phường G, tỉnh Thái Nguyên làm nhiệm vụ tại khu vực tổ dân phố số A, phường G, tỉnh Thái Nguyên phát hiện 01 nam thanh niên có biểu hiện nghi vấn liên quan đến hành vi đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề. Tổ công tác tiến hành kiểm tra, nam thanh niên tự khai nhận tên là Hoàng Quang N (sinh năm 2009, nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường L, tỉnh Thái Nguyên) và khai nhận vừa sử dụng ứng dụng Telegram trên điện thoại để nhắn tin mua 05 số đề của Vũ Hoàng V (sinh năm 2003, nơi cư trú và chỗ ở: Tổ C, phường Q, tỉnh Thái Nguyên), gồm các số 05, 50, 59, 95, 70, mỗi số 200.000 đồng. Tổng số tiền N mua số đề của Vũ Hoàng V là 1.000.000 đồng. Tổ công tác đã lập biên bản sự việc và tạm giữ của N 01 điện thoại di động nhãn hiệu Honor, lắp sim số 348664731.

Căn cứ lời khai trên của N, hồi 18 giờ cùng ngày, tổ công tác Công an phường G, tỉnh Thái Nguyên đến nhà Vũ Hoàng V tại tổ C, phường Q để xác minh. Lúc này, tại phòng khách nhà Vũ Hoàng V có V và Nguyễn Mạnh C. Cả hai thừa nhận khoảng 08 giờ 00 phút ngày 30/12/2025, C nhờ V đứng ra bán số lô, số đề cho C nên trong khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, V có bán cho Hoàng Quang N 05 số đề 05, 50, 59, 95, 70 với tổng số tiền là 1.000.000đồng. Sau đó, V chuyển lại những số đề này cho C và cả hai đang đợi đến giờ mở thưởng kết quả số xố kiến thiết Miền B để đối chiếu kết quả thì bị tổ công tác Công an phường G đến xác minh kiểm tra lập biên bản sự việc và tạm giữ của V 01 điện thoại iphone màu hồng lắp sim số 0786.729.113, tạm giữ C 01 điện thoại iphone lắp sim số 0963.271.194.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Mạnh C và Hoàng Quang N, Vũ Hoàng V khai nhận: Bản thân Nguyễn Mạnh C muốn thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô, số đề để kiếm thêm thu nhập nhưng do C đang chấp hành án phạt 36 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng về tội “Đánh bạc” theo Bản án số 127/2022/HS-PT ngày 13/12/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên nên C không dám trực tiếp thực hiện hành vi mua bán số lô, số đề. Khoảng 06 giờ ngày 30/12/2025, C thỏa thuận với Vũ Hoàng V để nhờ V đứng ra bán các số lô, số đề cho người chơi giúp C sau đó chuyển trực tiếp các số lô, số đề này lại cho C, V đồng ý. Khoảng 16 giờ cùng ngày, V đi đến sân Pickleball thuộc tổ dân phố A, phường G để chơi thì gặp Hoàng Quang N. N có nhu cầu mua số đề của V nên đã sử dụng ứng dụng Telegram trên điện thoại động nhãn hiệu Honor của N, gửi tin nhắn từ tài khoản tên “K” đến tài khoản tên “Bốp Bi” của V với nội dung: “Đề 050.595.70x200n", V nhắn lại “ok a”, tức là N mua 05 số đề 05, 50, 59, 95, 70, mỗi số giá 200.000 đồng, V đồng ý bán các số đề trên cho N, hẹn sau khi có kết quả Xổ số kiến thiết Miền bắc cùng ngày thì sẽ gặp nhau và thanh toán tiền. Đến khoảng 17 giờ 45 phút ngày 30/12/2025, C đến nhà V tại tổ C, phường Q, tỉnh Thái Nguyên. V nói đã bán cho N 05 số đề như nêu trên và chuyển lại những số đề này cho C bằng hình thức mở ứng dụng Telegram trên điện thoại ra cho C xem tin nhắn của N gửi tới, C đồng ý. Sau đó, cả hai cùng ngồi tại phòng khách nhà V đợi đến giờ mở thường kết quả sổ xố kiến thiết Miền B để đối chiếu kết quả thì bị Công an phường G đến kiểm tra phát hiện như nêu trên.

* Về hình thức đánh bạc bằng hình thức mua bán số đề như sau: Người mua sẽ chọn mua một số bất kỳ từ 00 đến 99 với giá tiền tùy ý, sau đó so sánh số đề đã mua với 02 số cuối của giải Đặc biệt của Xổ số kiến thiết Miền B mở thưởng lúc 18 giờ 30 phút ngày hôm đó. Nếu số đã mua trùng với 02 số cuối của giải Đặc biệt thì thắng bạc và được người bán trả số tiền gấp 70 lần số tiền đã bỏ ra mua số đề đó. Nếu không trúng thì người mua mất số tiền đã bỏ ra để mua số đề đó.

Do bị phát hiện trước thời điểm mở thưởng Xổ số kiến thiết Miền Bắc ngày 30/12/2025, nên các đối tượng chưa so sánh được thắng thua và chưa thanh toán tiền cho nhau. Nếu không bị phát hiện, các đối tượng sẽ hẹn gặp nhau và thanh toán tiền trực tiếp.

Lời khai nhận tội nêu trên của Nguyễn Mạnh C phù hợp lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến phù hợp với biên bản sự việc, kết quả kiểm tra điện thoại và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng của vụ án:

- 01 (một) điện thoại nhân hiệu Iphone, số IMEI: 354707570574550, số IMEI2: 354707570985475 (Tạm giữ của bị cáo Nguyễn Mạnh C).

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, số IMEI1: 350991542469933, IMEI2: 350991540547557 (Tạm giữ của Vũ Hoàng V).

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Honor, số IMEI: 864572071112992, IMEI: 864572071322997 (Tạm giữ của Hoàng Quang N).

Hiện số vật chứng trên đang được bảo quản tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 1- tỉnh Thái Nguyên chờ xử lý.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nêu trên. Bị cáo xác định không bị ép cung, nhục hình, khai báo trong tình trạng sức khỏe tốt, tỉnh táo; được nhận bản cáo trạng, đã đọc kỹ và nghe công bố tại phiên tòa, không thắc mắc về nội dung bản Cáo trạng; Kết luận điều tra, được nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên trình bày lời luận tội, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Nguyễn Mạnh C đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh C phạm tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 BLHS.

- Áp dụng: Điểm khoản 1, 3 Điều 321; Điều 38, Điều 56; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, đề nghị HĐXX:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh C từ 06 đến 09 tháng tù.

Áp dụng khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự, chuyển hình phạt 36 tháng tù cho hưởng án treo tại Bản án hình sự phúc thẩm số 127/2022/HSPT ngày 13/12/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên thành 36 tháng tù giam. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chịu hình phạt chung cho cả hai bản án từ 42 đến 45 tháng tù (được trừ đi thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/7/2021 đến ngày 16/9/2021 tại Bản án hình sự phúc thẩm số 127/2022/HSPT ngày 13/12/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên).

- Về hình phạt bổ sung: Phạt bổ sung bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

- Về vật chứng:

+ Truy thu 1.000.000 đồng đối với bị cáo Nguyễn Mạnh C.

+ Trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone, số IMEI: 354707570574550, số IMEI2: 354707570985475. Tiếp tục tạm giữ chiếc điện thoại trên để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.

+ Trả lại cho anh Vũ Hoàng V: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, số IMEI1: 350991542469933, IMEI2: 350991540547557 (thu giữ của Vũ Hoàng V).

+ Trả lại cho anh Hoàng Quang N: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Honor, số IMEI: 864572071112992, IMEI: 864572071322997 (thu giữ của Hoàng Quang N).

Tại phần tranh tụng: Bị cáo không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người đại diện theo pháp luật của anh N không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát; anh V và anh N xin lại các điện thoại di động bị cơ quan điều tra thu giữ.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử cho hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét về hành vi của bị cáo: Bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo là khách quan, phù hợp với lời khai của Vũ Hoàng V, Hoàng Quang N và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định: Hồi 16 giờ 30 phút ngày 30/12/2025, tại tổ A, phường G, tỉnh Thái Nguyên, Vũ Hoàng V đã giúp cho Nguyễn Mạnh C (là người bị kết án về tội Đánh bạc chưa được xóa án tích) bán số đề cho Hoàng Quang N với số tiền 1.000.000 đồng. Đến khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày, khi C và V đang ngồi tại nhà V đợi kết quả xổ số Kiến thiết miền B mở thưởng để xác định số tiền thắng thua với N, thì bị Công an phường G phát hiện lập biên bản sự việc và thu giữ vật chứng

Do đó bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên truy tố bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 BLHS là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Nội dung khoản 1 Điều 321 BLHS năm 2015 quy định như sau:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật… trị giá dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị kết án về tội này…chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, … thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Xét về hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an tại địa phương, nên cần phải xét xử bằng pháp luật hình sự để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo là người có nhân thân xấu, có tiền án về tội Đánh bạc, đang trong thời gian thử thách của bản án nhưng bị cáo cố tình tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội; bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đó là: “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Do đó, xét thấy cần thiết phải có mức hình phạt nghiêm minh, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, buộc cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để giúp bị cáo tự giáo dục, cải tạo mình thành người có ích cho xã hội. Áp dụng khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự, chuyển hình phạt 36 tháng tù cho hưởng án treo tại Bản án hình sự phúc thẩm số 127/2022/HSPT ngày 13/12/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên thành hình phạt 36 tháng tù. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chịu hình phạt chung cho cả hai bản án (được trừ đi thời gian bị tạm giữ, tạm giam tại Bản án hình sự phúc thẩm số 127/2022/HSPT ngày 13/12/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên).

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội vì động cơ vụ lợi, cho nên cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa là có căn cứ, Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

Đối với hành vi mua bán số đề của Vũ Hoàng V và Hoàng Quang N. Do số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng; các đối tượng Việt, N chưa có tiền án, tiền sự về tội đánh bạc, gá bạc hoặc tổ chức đánh bạc nên hành vi không cấu thành tội phạm. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T không xử lý về hình sự, đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Vũ Hoàng V và Hoàng Quang N là đúng quy định của pháp luật.

Về vật chứng của vụ án:

- Đối với 01 (một) điện thoại nhân hiệu Iphone thu giữ của bị cáo Nguyễn Mạnh C. Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định, bị cáo C không dùng vào việc đánh bạc nên trả lại cho bị cáo; tiếp tục tạm giữ chiếc điện thoại trên để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone thu giữ của Vũ Hoàng V; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Honor thu giữ của Hoàng Quang N là những tài sản mà các đối tượng V, N dùng vào việc đánh đề. Các đối tượng này đã bị Cơ quan cảnh sát điều tra xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này nên xét thấy cần trả lại 02 chiếc điện thoại trên cho V và N.

- Đối với số tiền 1.000.000 đồng bị cáo dùng vào việc đánh bạc, cần truy thu sung vào ngân sách nhà nước.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 47, 56, khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung một số điều tại Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025); các Điều 106; 123, 136; 298; 299; 331; 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Mạnh C phạm tội “Đánh bạc”.

1. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Mạnh C 06 (sáu) tháng tù.

Chuyển hình phạt 36 tháng tù cho hưởng án treo tại Bản án hình sự phúc thẩm số 127/2022/HSPT ngày 13/12/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên thành hình phạt 36 tháng tù; tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chịu hình phạt chung cho cả hai bản án là 42 (bốn mươi hai) tháng tù (được trừ đi thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/7/2021 đến ngày 16/9/2021 tại Bản án hình sự phúc thẩm số 127/2022/HSPT ngày 13/12/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên).

Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án phạt tù.

Quyết định cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Nguyễn Mạnh C đến khi bị cáo chấp hành án.

Phạt bổ sung đối với bị cáo 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước.

2. Về vật chứng của vụ án:

2.1. Truy thu đối với bị cáo Nguyễn Mạnh C số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước.

2.2. Trả lại cho bị cáo: 01 (một) điện thoại nhân hiệu Iphone, số IMEI: 354707570574550, số IMEI2: 354707570985475, được niêm phong trong 01 bì niêm phong ký hiệu A1; tiếp tục tạm giữ chiếc điện thoại trên để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.

2.3. Trả lại cho anh Vũ Hoàng V: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, số IMEI: 350991542469933, IMEI2: 350991540547557, được niêm phong trong 01 bì niêm phong ký hiệu A2.

2.4. Trả lại cho anh Hoàng Quang N: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Honor, số IMEI: 864572071112992, IMEI 2: 864572071322997, phần mặt lưng phía sau bị vỡ, xước, được niêm phong trong 01 bì niêm phong ký hiệu A3

(Tình trạng vật chứng như Biên bản giao nhận số 182 ngày 28/4/2026 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh T và Phòng thi hành án dân sự khu vực 1

- Thái Nguyên).

3. Án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Mạnh C phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người đại diện theo pháp luật của anh Hoàng Quang N có mặt biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ