- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Diễm T - vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Diễm T.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 134/2026/HS-PT Ngày: 22 - 7 - 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Trung Hiếu.
Các Thẩm phán:
Ông Võ Thanh Bình.
Ông Lê Khắc Thịnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Mơ – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Diễm - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 7 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 109/2026/TLPT-HS ngày 13 tháng 5 năm 2026 đối với bị cáo Nguyễn Thị Diễm T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 47/2026/HS-ST ngày 12 tháng 03 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 2 - Đồng Tháp.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Thị Diễm T, sinh năm 1987, tại tỉnh Đồng Tháp; Thẻ CCCD: 082187020430. Nơi cư trú: Ấp V, xã T, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn D (đã chết) và bà Ngô Thị P (đã chết); Chồng: Huỳnh Văn N (đã ly hôn) và có 03 người con; tiền án: không; tiền sự: không. Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 05/8/2025. Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra bản án còn có 05 người đại diện theo pháp luật của bị hại, 04 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo; Bản án không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 05 giờ 10 phút, ngày 26/3/2025, bị cáo Nguyễn Thị Diễm T điều khiển xe mô tô hai bánh biển số kiểm soát 63B6-287.22 lưu thông trên đường huyện lộ 05 từ Tỉnh lộ 862 về hướng Tỉnh lộ 871C. Khi đến gần trụ điện số 07 thuộc ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp bị cáo T điều khiển xe thiếu chú ý quan sát va chạm với bị hại Lê Văn T1 đang đi bộ cùng chiều phía trước. Hậu quả làm bị hại T1 tử vong. Qua điều tra thì bị cáo T không có giấy phép lái xe, điều khiển xe không có đèn chiếu sáng, khu vực gần hiện trường vào thời điểm xảy ra tai nạn trời tối, tầm nhìn hạn chế, không có đèn chiếu sáng.
Hiện trường vụ án thể hiện như sau: Đoạn đường xảy ra tai nạn giao thông là đường huyện E, đoạn thuộc ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp. Đoạn đường xảy ra tai nạn tương đối bằng phẳng, đường trãi nhựa có bề rộng là 5,40 mét, đường hai chiều riêng biệt được phân chia bằng vạch kẻ đường đứt quãng màu vàng.
Lấy trụ điện số 7 nằm bên mép lề đường bên phải theo chiều hướng xe mô tô được xác định là điểm mốc, mép đường bên phải theo chiều hướng xe mô tô được xác định là mép đường chuẩn.
- Vùng va chạm cách mép đường chuẩn là 0,5 mét.
- Vết cày thứ nhất có chiều dài là 1 mét, đầu vết cày cách mép đường chuẩn là 0,5 mét và cách vùng va chạm 0,8 mét, cuối vết cày cách mép đường chuẩn là 0,6 mét và cách vết cày thứ hai là 1,40 mét.
- Vết cày thứ hai có chiều dài là 0,48 mét, đầu vết cày cách mép đường chuẩn là 0,53 mét và cách vết cày thứ nhất là 1,40 mét, cuối vết cày cách mép đường chuẩn là 0,5 mét và cách trục sau của xe mô tô là 0,48 mét.
- Xe mô tô hai bánh biển số 63B6-287.22 đầu xe hướng đông nam, đuôi xe hướng tây bắc, xe ngã về bên phải. Trục trước nằm ngoài lề cách mép đường chuẩn là 0,10 mét. Trục sau cách mép đường chuẩn là 0,5 mét và cách vết cày thứ hai là 0,48 mét, trục trước cách tâm vết màu đỏ (nghi là máu) là 1,55 mét.
- Vết màu đỏ (nghi là máu) nằm ngoài lề cách mép đường chuẩn là 0,4 mét, cách trục trước bánh xe là 1,55 mét.
Kết quả khám phương tiện là xe mô tô hiệu Honda, loại Wave RSX, màu đen xanh, biển số 63B6-287.22 lập ngày 06/4/2025 ghi nhận: Mỏ vè trước bị trầy xước 6x4cm; Ốp nhựa đầu đèn bên phải, bửng phải bị trầy xước; Đầu tay cầm lái bên phải, đầu tay phanh, góc ốp nhựa hộp đầu đèn bị trầy xước; Đầu chân phanh, đầu gác chân trước phải bị trầy xước; Ốp pô xe trầy xước. Hệ thống phanh còi hoạt động bình thường; Hệ thống đèn chiếu sáng không hoạt động.
Bản kết luận giám định tử thi số 101-2025/KLGĐTT-TTPY ngày 06/4/2025 của Trung tâm Pháp y tỉnh T kết luận nguyên nhân tử vong tử thi Lê Văn T1: Chấn thương sọ não kín do xuất huyết dưới màng cứng, dưới màng nhện toàn bộ bán cầu đại não trái. Xuất huyết hai bán cầu tiểu não. Dập não. Phù não. Vỡ sàng sọ/ tai nạn giao thông.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2026/HSST ngày 12 tháng 3 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 2 - Đồng Tháp đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Diễm T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Diễm T 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 20 tháng 3 năm 2026, bị cáo Nguyễn Thị Diễm T kháng cáo với nội dung: Xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
* Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Thị Diễm T khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã xử, đồng thời giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong phần tranh luận phát biểu quan điểm giải quyết vụ án đã phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân cùng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, mức án Tòa án cấp sơ thẩm tuyên đối với bị cáo là phù hợp không nặng. Tại giai đoạn phúc thẩm bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp tình tiết gì mới nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo. Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Hình sự giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Diễm T nộp trong thời hạn luật định và hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét.
. Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Diễm T đã thừa nhận hành vi phạm tội đúng như bản Bản án sơ thẩm đã xử, lời thừa nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Vào khoảng 05 giờ 10 phút, ngày 26/3/2025, tại tuyến đường huyện E đoạn qua ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp, bị cáo T không có giấy phép lái xe, thiếu chú ý quan sát trong khu vực không có đèn chiếu sáng trong điều kiện trời tối đã điều khiển xe mô tô hai bánh biển số 63B6-287.22 không có đèn chiếu sáng va chạm vào bị hại Lê Văn T1 đang đi bộ cùng chiều phía trước, hậu quả làm bị hại T1 tử vong. Do đó, Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đồng Tháp xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Diễm T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
. Xét kháng cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Nguyên nhân chính xảy ra tai nạn giao thông do bị cáo điều khiển xe mô tô trong điều kiện trời tối, hạn chế tầm nhìn nhưng thiếu chú ý quan sát, sử dụng phương tiện lưu thông trên đường không có đèn chiếu sáng, lái xe không có giấy phép. Do đó xác định lỗi trong vụ án này là hoàn toàn thuộc về bị cáo.
Bên cạnh đó, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm cũng đã xem xét các vấn đề như: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, các đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Mặc dù cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như đã nêu trên, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, tai nạn đã xảy ra với hậu quả rất nghiêm trọng làm một người chết, bị cáo tham gia giao thông trên đường không có giấy phép lái xe, hành vi đó của bị cáo cần phải xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung. Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm cũng đã áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự cho bị cáo hưởng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà Viện kiểm sát đã truy tố. Tại cấp phúc thẩm bị cáo không cung cấp bổ sung tình tiết giảm nhẹ mới. Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không có căn cứ để xem xét. Do vậy cần thiết giữ nguyên án sơ thẩm.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
. Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
. Xét ý kiến và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp nhận định trên nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Diễm T.
Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 47/2026/HSST ngày 12 tháng 3 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 2 - Đồng Tháp.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Diễm T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Diễm T 01 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Nguyễn Thị Diễm T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND Tối cao; (1) - VKSND tỉnh Đồng Tháp; (1) - Phòng hồ sơ CA tỉnh Đồng Tháp; (1) - TAND khu vực 2- Đồng Tháp; (2) - VKSND khu vực 2 - tỉnh Đồng Tháp; (1) - THADS tỉnh Đồng Tháp; (1) - Bị cáo;(1) - Lưu hồ sơ, án văn. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Trung Hiếu |