vanban.org

Bản án 134/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Ngô Hoàng Ph 07 (bảy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16-8-2025 về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Về biện pháp tư pháp: căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; các điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu và tiêu hủy 90,36 (chín mươi phẩy ba sáu) gam hoa Cần sa mẫu vật hoàn lại sau giám định trong phong bì còn nguyên niêm phong số 769/MT/PC09 ngày 20-8-2025 của Phòng Kỹ th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Ngô Hoàng Ph phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Ngô Hoàng Ph 07 (bảy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16-8-2025 về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu và tiêu hủy; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1-QUẢNG NINH
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 134/2025/HS-ST
Ngày 30-10-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1-QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Tố Nga

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Như Toản

Bà Trần Thị Kim Nhung

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Quân-Thư ký Toà án nhân dân khu vực 1-Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1-Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hạ Thu -Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở, Toà án nhân dân khu vực 1-Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 130/2025/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 140/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:

Ngô Hoàng Ph, sinh ngày: 30-6-1999, tại Quảng Ninh; nơi thường trú: tổ 5, khu 5, phường V, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Xuân H1 và bà Hoàng Thị H2; có vợ là Vũ Mai H3 và 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ ngày 16-8-2025, bị tạm giam ngày 22-8-2025, hiện nay bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Phạm Văn Th, sinh năm 1994; địa chỉ: tổ 5, khu 5, phường V, tỉnh Quảng Ninh (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Người tham gia tố tụng khác:

Người chứng kiến: Anh Phạm Gia Q (vắng mặt không lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngô Hoàng Ph và Phạm Văn Th là hàng xóm, Th sử dụng ma tuý Cần sa và biết Ph có bán ma tuý trên. Khi có nhu cầu mua ma túy sử dụng, Th sử dụng tài khoản Facebook Messenger “Nsưt Văn Th” của Th gọi đến tài khoản Facebook Messenger “Ph H” của Ph để đặt mua, và chuyển khoản tiền mua ma tuý từ số tài khoản 0943668844 tại ngân hàng TMCP Q (MB Bank) của Th đến số tài khoản 0521000734131 tại ngân hàng TMCP Ng (Vietcombank) của Ph. Sau khi nhận được tiền, Ph lấy ma tuý Cần sa đặt cạnh viên đá ở gần nhà Ph rồi gọi điện chỉ vị trí cho Th đến lấy. Trong các ngày 12, 13 và 15-8-2025, tại tổ 5, khu 5, phường V, tỉnh Quảng Ninh, Ph đã 03 lần bán trái phép 03 túi ma tuý cần sa cho Th với tổng số tiền là 900.000 đồng. Cụ thể như sau:

- Lần thứ nhất: Khoảng 18 giờ 55 phút ngày 12-8-2025, Th gọi Messenger cho Ph hỏi mua 300.000 đồng ma tuý Cần sa; Ph đồng ý; sau khi nhận được tiền vào tài khoản, Ph đã bán cho Th 01 túi ma túy Cần sa.

- Lần thứ hai: Khoảng 19 giờ 28 phút ngày 13-8-2025, Th gọi Messenger cho Ph hỏi mua 300.000 đồng ma tuý Cần sa; Ph đồng ý; sau khi nhận được tiền vào tài khoản, Ph đã bán cho Th 01 túi ma tuý Cần sa.

- Lần thứ ba: Khoảng 18 giờ 25 phút ngày 15-8-2025, Th tiếp tục gọi Messenger cho Ph hỏi mua 300.000 đồng ma túy Cần sa; Ph đồng ý; sau khi nhận được tiền vào tài khoản, Ph đã bán cho Th 01 túi ma tuý Cần sa.

Đến khoảng 01 giờ 00 phút, ngày 16-8-2025, Công an tỉnh Quảng Ninh phối hợp cùng Công an phường V kiểm tra nhân khẩu tại tổ 5, khu 5, phường V, phát hiện Ph cất giấu chất nghi là ma túy, mục đích để bán; thu giữ tại kệ sách trên bàn học cũ lối ra hành lang nhà vệ sinh 01 túi nilon bên trong chứa chất thực vật khô, nghi là ma túy.

Tại Kết luận giám định số 769/KL-KTHS ngày 20-8-2025, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng đã kết luận: các bông thực vật khô đựng trong túi nilon gửi giám định là ma túy, có khối lượng 100,19 gam, là Cần sa (hoa cây Cần sa). Mẫu nước tiểu ghi tên Phạm Văn Th gửi giám định đều tìm thấy chất: 11-nor-delta 9-tetrahydrocannabinol-9-carboxylic (là sản phẩm chuyển hóa được tìm thấy khi con người sử dụng chất ma túy Cần sa). Mẫu nước tiểu ghi tên Ngô Hoàng Ph không tìm thấy chất ma túy và sản phẩm chuyển hóa của ma túy.

Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ninh ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Ph, thu giữ của Ph 01 điện thoại di động nhãn hiện Iphone, màu vàng, gắn sim 0332.201.258.

Quá trình điều tra, Ngô Hoàng Ph khai nhận hành vi phạm tội đã nêu trên, ngoài ra Ph khai: thông qua mạng xã hội Telegram, Ph biết tài khoản “COP MEO. Chanel” bán ma túy Cần sa nên đã liên hệ đặt mua, giao nhận qua dịch vụ vận chuyển, trả tiền mua ma túy và phí vận chuyển cho người giao hàng. Trong các ngày 02 và 07-8-2025, Ph đã 02 lần đặt mua tổng cộng 150 gam ma túy Cần sa với giá 12.500.000 đồng. Sau đó, Ph chia ma túy thành các túi nhỏ để bán cho nhiều người không quen biết và Th, số còn lại Ph cất giấu tại nơi ở mục đích để bán thì bị thu giữ. Lời khai của Ph phù hợp với lời khai của Phạm Văn Th. Ngoài ra, Th còn khai: Th đã sử dụng hết số ma túy mua của Ph.

Tại Cáo trạng số 6192/CT-VKSKV1 ngày 29-9-2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1-Quảng Ninh đã truy tố Ngô Hoàng Ph về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1-Quảng Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251 và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), xử phạt bị cáo Ph từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 16-8-2025 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Do bị cáo Ph là lao động tự do, không có thu nhập ổn định và không có tài sản riêng nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về các biện pháp tư pháp: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; các điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu và tiêu hủy 90,36 gam hoa Cần sa mẫu vật hoàn lại sau giám định và 01 sim số 0332.201.258 của bị cáo Ph; tịch thu của bị cáo Ph 01 điện thoại di động nhãn hiện Iphone, màu vàng nộp ngân sách Nhà nước; truy thu của bị cáo Ph số tiền 900.000 đồng do bị cáo phạm tội mà có nộp ngân sách Nhà nước.

Bị cáo Ph thừa nhận việc Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) là đúng pháp luật; bị cáo không tranh luận với luận tội của đại diện Viện kiểm sát;

Bị cáo Ph nói lời sau cùng: bị cáo nhận thức hành vi mua bán ma túy của bị cáo là trái pháp luật, bị cáo rất ăn năn, hối cải; bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, xử bị cáo mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1-Quảng Ninh và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Ngô Hoàng Ph và anh Phạm Văn Th không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về việc xét xử vắng mặt người tham gia tố tụng: người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Phạm Văn Th và người chứng kiến là anh Phạm Gia Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Xét thấy, anh Th và anh Q đã có đầy đủ lời khai tại Cơ quan điều tra và việc anh Th, anh Q vắng mặt tại phiên tòa không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án khách quan, đúng quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt các anh Th, Q là phù hợp với quy định tại Điều 292 và Điều 296 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về tội danh và điều luật áp dụng: lời khai của bị cáo Ngô Hoàng Ph tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Phạm Văn Th, lời khai của người chứng kiến là anh Phạm Gia Q và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp; thông báo kết quả giám định sơ bộ số 769/TB-KTHS ngày 17-8-2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng; biên bản sự việc kiểm tra nhân hộ khẩu tại tổ 5, khu 5, phường V; bản ảnh sự việc; biên bản thu thập dữ liệu điện tử; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; văn bản số 609 ngày 24-9-2025 của Ngân hàng TMCP Ng-Chi nhánh H; Thông tin chi tiết tài khoản của Ngô Hoàng Ph; biên bản lấy mẫu và niêm phong nước tiểu của Phạm Văn Th và Ngô Hoàng Ph; biên bản nhận dạng người qua ảnh của Phạm Văn Th, Ngô Hoàng Ph; biên bản xác định hiện trường vụ án và kết luận giám định số 769/KL-KTHS ngày 20-8-2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: trong các ngày 12, 13 và 15-8-2025, tại tổ 5, khu 5, phường V, tỉnh Quảng Ninh, Ngô Hoàng Ph đã 03 lần bán trái phép 03 túi ma tuý Cần sa cho Phạm Văn Th với tổng số tiền là 900.000 đồng (chín trăm nghìn đồng). Ngoài ra, vào hồi 01 giờ 00 phút ngày 16-8-2025, tại nơi ở thuộc tổ 5, khu 5, phường V, tỉnh Quảng Ninh, Ph còn có hành vi tàng trữ 100,19 (một trăm phẩy mười chín) gam ma túy Cần sa, mục đích để bán thì bị Công an tỉnh Quảng Ninh phối hợp với Công an phường V kiểm tra, thu giữ vật chứng.

Hành vi mua bán trái phép chất ma tuý của bị cáo Ph là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về mua bán chất ma túy, giúp sức cho những người buôn bán trái phép chất ma tuý, gây ảnh hưởng đến sức khoẻ, làm thiệt hại về kinh tế của nhiều gia đình, góp phần làm gia tăng các loại tội phạm khác, đồng thời gây mất trật tự xã hội tại địa Ph. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng do động cơ tư lợi nên bị cáo vẫn bất chấp pháp luật mua ma túy về để bán trái phép. Hành vi của bị cáo Ph đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng số 6192/CT-VKSKV1 ngày 29-9-2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1-Quảng Ninh đã truy tố đối với bị cáo Ph là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Sau khi phạm tội, bị cáo Ph đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Nên đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Bị cáo Ph không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về hình phạt chính: sau khi xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi của bị cáo Ph và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo Ph ra khỏi xã hội một thời gian nhất định ở mức tối thiểu mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị áp dụng đối với bị cáo, như vậy mới có tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời để phòng ngừa tội phạm chung.

Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự thì bị cáo Ph còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền với mức phạt từ 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) đến 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng). Tuy nhiên, hiện nay bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, bị cáo cũng không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về biện pháp tư pháp:

- Đối với 90,36 gam hoa Cần sa mẫu vật hoàn lại sau giám định: là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu và tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiện Iphone, màu vàng: là tài sản hợp pháp của bị cáo Ph, bị cáo đã sử dụng vào việc phạm tội nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu chiếc điện thoại trên nộp ngân sách Nhà nước.

- Đối với sim số 0332.201.258 thu giữ của bị cáo Ph không có giá trị nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu và tiêu hủy.

- Đối với số tiền 900.000 đồng (chín trăm nghìn đồng) bị cáo Ph có được từ việc phạm tội (03 lần bán trái phép chất ma túy cho anh Th), bị cáo đã chi tiêu cá nhân hết. Nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, tịch thu của bị cáo số tiền trên nộp vào ngân sách Nhà nước.

Đối với người đã bán ma túy cho bị cáo Ph, quá trình điều tra không xác định được con người cụ thể nên không có căn cứ xử lý.

Đối với anh Phạm Văn Th có hành vi mua ma túy Cần sa của Ph về sử dụng, Công an tỉnh Quảng Ninh đã ra Quyết định xử phạt hành chính. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Kiến nghị Ủy ban nhân dân phường V, tỉnh Quảng Ninh nâng cao việc giám sát, tăng cường quản lý đối với những người sử dụng ma túy, người có tiền án, tiền sự; đẩy mạnh việc phổ biến, tuyên truyền các quy định của pháp luật về phòng chống tội phạm ma túy và các tệ nạn xã hội.

Về án phí: bị cáo Ph phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 6 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Quyền kháng cáo: bị cáo Ph và anh Th có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định tại các khoản 1,4 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Xử phạt bị cáo Ngô Hoàng Ph 07 (bảy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16-8-2025 về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Về biện pháp tư pháp: căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; các điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu và tiêu hủy 90,36 (chín mươi phẩy ba sáu) gam hoa Cần sa mẫu vật hoàn lại sau giám định trong phong bì còn nguyên niêm phong số 769/MT/PC09 ngày 20-8-2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng.

Tịch thu và tiêu hủy 01 sim số 0332.201.258 thu giữ của bị cáo Ph.

Tịch thu của bị cáo Ngô Hoàng Ph 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone (kiểu dáng Iphone 6s), màu vàng nộp ngân sách Nhà nước

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 02/BB-THA/KV1 ngày 01-10-2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ninh (PC 04 ma túy) và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1-Quảng Ninh).

Tịch thu của bị cáo Ngô Hoàng Ph số tiền 900.000 đồng (chín trăm nghìn đồng) do bị cáo phạm tội mà có nộp ngân sách Nhà nước.

Về án phí: căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 6 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Ph phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: căn cứ vào các khoản 1,4 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo Ph có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Phạm Văn Th có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ