- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "An - Xuyên"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa ông Nguyễn Hoàng A và bà Nguyễn Mỹ X.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 134/2025/HNGĐ – ST Ngày: 04 – 12 – 2025 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – CÀ MAU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
– Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Thiêm
– Các Hội thẩm nhân dân:
Ông: Nguyễn Thành Nhạn
Bà: Cao Thị Mỹ Phượng
– Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Luân, Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Cà Mau.
– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Châu Hoa Đăng, kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 327/2025/TLST – HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2025 về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2025/QĐXXST – HNGĐ ngày 11 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
– Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hoàng A, sinh năm 1970
+ Địa chỉ: Ấp 2, xã Đ, tỉnh C
– Bị đơn: Bà Nguyễn Mỹ X, sinh năm 1979
+ Địa chỉ: Ấp 2, xã Đ, tỉnh C
(Ông A có đơn xin xét xử vắng mặt, bà X vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
– Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng An trình bày: Vào năm 1997 ông An, bà Xuyên tự nguyện tìm hiểu và tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn theo luật định. Vợ chồng chung sống đến đầu năm 2025 thì xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng không có tiếng nói chung, không còn quan tâm đến nhau, cuộc sống vợ chồng không còn tồn tại và không thể hàn gắn được, mục đích của hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn đối với bà Xuyên. Về con chung: Vợ chồng có 02 người con chung tên Nguyễn Thị Yến Nhi, sinh ngày 19/03/1998 và Nguyễn Thị Yến Như, sinh ngày 07/10/2002, hiện các con chung đã trưởng thành có cuộc sống riêng. Về nợ chung: Không có, không cầu Tòa án giải quyết; Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không cầu Tòa án giải quyết.
– Về phía bị đơn bà Nguyễn Mỹ Xuyên: Sau khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho bà Xuyên theo quy định của pháp luật, chị Nguyễn Thị Yến Nhi là con ruột của bà Xuyên sống chung trong gia đình nhận thay và cam kết giao lại nhưng bà Xuyên vẫn vắng mặt không có lý do, vì vậy Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bà Xuyên theo quy định tại Điều 177, 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
– Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Cà Mau:
+ Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án thì Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định Bộ luật tố tụng dân sự, thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, thực hiện đúng quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử, việc cấp, tống đạt các văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát và đương sự đầy đủ, đúng thời hạn. Việc chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát đúng thời hạn. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng An và bị đơn bà Nguyễn Mỹ Xuyên đúng theo quy định pháp luật.
+ Về nội dung: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 177, Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Hoàng An đối với bà Nguyễn Mỹ Xuyên; Về con chung: Đã trưởng thành, không đặt ra; Về nợ chung: Không có, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét; Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét; Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm ông Nguyễn Hoàng An phải nộp theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn vẫn giữ nguyên nội dung đã trình bày và có yêu cầu Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về hôn nhân: Ông An và bà Xuyên chung sống vợ chồng có tổ chức đám cưới trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn, do đó hôn nhân của ông bà là hợp pháp cần được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng không có tiếng nói chung, không còn quan tâm, tôn trọng lẫn nhau và đã ly thân từ đầu năm 2025 cho đến nay. Mặc dù đã được gia đình hai bên hàn gắn đoàn tựu nhiều lần nhưng không thành, từ đó thấy rằng mâu thuẫn gia đình của ông An và bà Xuyên là đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau nhưng anh chị không thực hiện được. Do đó, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình là có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Hoàng An đối với bà Nguyễn Mỹ Xuyên.
. Về con chung: Theo ông An xác định vợ chồng có 02 người con chung tên Nguyễn Thị Yến Nhi, sinh ngày 19/03/1998 và Nguyễn Thị Yến Như, sinh ngày 07/10/2002, hiện các con chung đã trưởng thành có cuộc sống riêng, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
. Về nợ chung: Theo ông An xác định vợ chồng không có nợ ai cũng không ai nợ vợ chồng, ông An không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
. Về tài sản chung: Ông An không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
. Về phía bị đơn bà Nguyễn Mỹ Xuyên: Sau khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho bà Xuyên theo quy định của pháp luật, chị Nguyễn Thị Yến Nhi là con ruột của bà Xuyên sống chung trong gia đình nhận thay và cam kết giao lại nhưng bà Xuyên vẫn vắng mặt không có lý do, vì vậy Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bà Xuyên theo quy định tại Điều 177, 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về án phí hôn nhân và gia đình ông An phải nộp theo quy định pháp luật.
. Qua ý kiến đề xuất xử lý vụ án của đại diện Viện kiểm sát, HĐXX xét thấy là có căn cứ nên cần được ghi nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
– Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 177, Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa ông Nguyễn Hoàng A và bà Nguyễn Mỹ X.
2. Về con chung: Không đặt ra
3. Về tài sản và nợ chung: không đặt ra.
4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Buộc ông Nguyễn Hoàng A phải nộp 300.000đ, ông A đã dự nộp số tiền 300.000đ, theo biên lai thu số 0001418 ngày 10/10/2025 tại Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 8, được chuyển thu án phí hết.
Án xử sơ thẩm công khai, báo cho các bên đương sự biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày toà tuyên án. Bị đơn bà Nguyễn Mỹ X vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ khi nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại nơi cư trú.
- Nơi nhận:
| + TAND tỉnh Cà Mau; + VKSND tỉnh Cà Mau; + VKSND Khu vực 8 – Cà Mau; + Phòng THA dân sự Khu vực 8; + UBND xã Đông Hải; + Đương sự; + Lưu hồ sơ . | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Thiêm |