- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Thị D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 134/2024/HSST Ngày: 19/6/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lư ng Tiến Hải.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Thào A Páo.
Ông Phạm Ngọc Thiệp.
- Thư ký phiên toà: Bà Lò Thị Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu tham gia phiên toà: Bà Bạc Thị Thoản - Kiểm sát viên.
Ngày 19/6/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thuận Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 139/2024/TLST-HS ngày 05/6/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 143/2024/QĐXXST-HS ngày 06/6/2024 đối với bị cáo:
Lò Thị D; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 2000 tại xã T, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản C, xã T, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Thái; Giới t nh: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lò Văn T, sinh năm: 1972 và bà: Quàng Thị D, sinh năm: 1976; Bị cáo có chồng: Lò Văn N, sinh năm:1999 và 01 con 03 tuổi; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bắt, tạm giữ, tạm giam t ngày 26/3/2024 cho đến nay, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 21 gi 00 phút, ngày 26/3/2024 tổ công tác Công an xã C, huyện Thuận Châu làm nhiệm vụ tại khu vực bản L, xã C, huyện Thuận Châu phát hiện bắt quả tang Lò Thị D có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đ ch sử dụng. Vật chứng thu giữ gồm: Một gói nilon màu trắng bên trong có chứa chất bột cục màu trắng hồng nghi là Heroine và ma túy tổng hợp trộn lẫn(D khai nhận là Heroine và ma túy tổng hợp).
Ngày 27/3/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La đã tiến hành bóc mở niêm phong cân tịnh số chất bột cục màu trắng hồng nghi là Heroine và ma túy tổng hợp trộn lẫn thu giữ của Lò Thị D khối lượng 0,23 gam tr ch rút toàn bộ 0,23 gam ( ký hiệu D1) gửi giám định chất và loại ma túy. Đồng th i ra Quyết định trưng cầu phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La giám định chất và loại ma túy.
Tại Kết luận giám định số: 793/KL-KTHS ngày 29/3/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu D1 là ma túy loại Methamphetamine và loại Heroine, có tên khoa học là Diacentymorphine khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,23 gam. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thuận Châu, Lò Thị D đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như sau:
Khoảng 20 gi 00 phút, ngày 26/3/2024 Lò Thị D đi bộ t bản L, xã C, huyện Thuận Châu xuống bản D, xã C, huyện Thuận Châu để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đi đến đây D gặp và hỏi mua của ngư i đàn ông dân tộc Thái (D không biết tên, tuổi, địa chỉ) mua được Heroine và ma túy tổng hợp trộn lẫn được gói bằng nilon màu trắng với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy D cất vào túi quần đằng trước bên trái đang mặc rồi đi bộ về nhà. Khi đi đến bản L, xã C, huyện Thuận Châu thì bị Tổ công tác Công an xã C, huyện Thuận Châu yêu cầu kiểm tra ma túy, quá trình kiểm tra Tổ công tác đã phát hiện và thu giữ vật chứng như đã nêu trên. Tổ công tác đã đưa Lò Thị D về trụ sở UBND xã C, huyện Thuận Châu lập biên bản bắt ngư i có hành vi phạm tội quả tang. Sau đó, Tổ công tác dẫn giải Lò Thị D về Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thuận Châu xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại bản cáo trạng số: 94/CT-VKS-TC ngày 04/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu đã truy tố Lò Thị D về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay Lò Thị D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu đã truy tố và th a nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo Lò Thị D về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng ngư i, đúng tội.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày l i luận tội, sau khi phân t ch đánh giá t nh chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố Lò Thị D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Lò Thị D t 18 đến 24 tháng tù. Th i hạn tù t nh t ngày 26/3/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy: Một phong bì niêm phong có viền màu xanh, đỏ bên trong có: 01 mảnh nilon màu trắng + 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.
Án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thư ng vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án: Miễn toàn bộ án ph hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Ý kiến của bị cáo Lò Thị D: Nhất tr như l i luận tội của đại diện Viện kiểm sát, trong l i nói sau cùng của bị cáo th a nhận hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt chính cho bị cáo, xin miễn hình phạt bổ sung và án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, thực hiện đúng thủ tục tố tụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng.
Về hành vi phạm tội của bị cáo Lò Thị D nhận thấy: Ngày 26/3/2024 tại khu vực bản Lĩnh Luông, xã C, huyện Thuận Châu, Lò Thị D đã có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy 0,23 gam loại Methamphetamine và loại Heroine, có tên khoa học là Diacentymorphine nhằm mục đ ch để sử dụng cho bản thân bị cáo thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên l i khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, bị cáo hoàn toàn nhất tr với hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát. L i khai của bị cáo phù hợp với:
L i khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra, Biên bản bắt ngư i phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong kiểm tra vật chứng và niêm phong lại; Biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định và niêm phong; Kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La.
T các căn cứ trên có đủ cơ sở kết luận hành vi cất giữ trái phép 0,23 gam loại Methamphetamine và loại Heroine, có tên khoa học là Diacentymorphine với mục đ ch để sử dụng của Lò Thị D đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trư ng hợp nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến ch nh sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương. Do đó cần có mức hình phạt tương xứng nhằm răn đe giáo dục đối với bị cáo, trên cơ sở xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo tuổi còn trẻ, là phụ nữ ngư i dân tộc thiểu số, đang nuôi con nhỏ cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo phạm tội lần đầu không có tiền án, tiền sự.
Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Bị cáo thuộc hộ cận nghèo, không có tài sản riêng, không có khả năng thi hành nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo Lò Thị D khai nhận mua của một ngư i đàn ông dân tộc Thái (D không biết tên, tuổi, địa chỉ) tại khu vực bản D, xã C, huyện Thuận Châu mua được một gói Heroine và ma túy tổng hợp trộn lẫn được gói bằng nilon màu trắng với giá 200.000 đồng vào ngày 26/3/2024 nhưng do D không biết họ tên, tuổi và địa chỉ cư trú của ngư i đàn ông này, chỉ có l i khai duy nhất của D do vậy cơ quan điều tra không có đủ căn cứ điều tra, xử lý.
Vật chứng vụ án: Đối với một phong bì niêm phong có viền màu xanh, đỏ bên trong có: 01 mảnh nilon màu trắng + 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu là công cụ phạm tội, không có giá trị sử dụng do đó cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Về án ph : Bị cáo thuộc hộ cận nghèo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thư ng vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án: Miễn toàn bộ án ph hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lò Thị D phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Lò Thị D 18 (Mư i tám) tháng tù. Th i hạn tù t nh t ngày 26/3/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên tịch thu tiêu hủy: Một phong bì niêm phong, có viền màu xanh đỏ. Bên trong có: 01 mảnh nilon màu trắng + 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu (Mô tả chi tiết theo khoản 1 biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/6/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Thuận Châu và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuận Châu).
3. Về án phí: Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thư ng vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án: Miễn toàn bộ án ph hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể t ngày tuyên án./. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Sơn La;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND (02 bản);
- Sở Tư pháp tỉnh Sơn La
- CA huyện Thuận Châu;
- Nhà tạm giữ, Trại tạm giam;
- Chi cục THADS huyện Thuận Châu;
- Bị cáo;
- Lưu án văn;
- Lưu:Hồ sơ.
Lường Tiến Hải
| Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM - TAND tỉnh Sơn La; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA - VKSND (02 bản); - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La - CA huyện Thuận Châu; - Chi cục THADS huyện Thuận Châu; - UBND xã C, huyện Thuận Châu; - Bị cáo; - Lưu án văn; Lường Phong Hải - Lưu:Hồ sơ. |