- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H phạm tội Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 72/2024/HS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 134/2024/HS-PT Ngày: 31 -12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Vũ Văn Mạnh.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thu Hà;
Bà Phạm Thị Thúy Mai.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hà-Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Ánh Nguyệt - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 148/2022/TLPT-HS ngày 05 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo Nguyễn Văn H do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H đối với bản án hình sự sơ thẩm số 72/2024/HS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc.
Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Văn H, sinh ngày 22/12/1982, tại V, tỉnh Vĩnh Phúc; Nơi cư trú: thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; Đảng, Đoàn thể: Không; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H1 và bà Trần Thị P; có vợ là Nguyễn Thị V và có 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại bản án hình sự phúc thẩm số 54/2016/HSPT ngày 05/9/2016, Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt H 10 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”, thời gian thử thách 01 năm 08 tháng, đã chấp hành xong thời gian thử thách, đã nộp tiền phạt và án phí, đã được xoá án tích; hiện tại ngoại tại địa phương, có mặt.
Trong vụ án còn có bị cáo khác, không kháng cáo, không bị kháng nghị, không liên quan tới kháng cáo, tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào 17 giờ 43 phút ngày 26/5/2024, Trần Văn N sử dụng điện thoại di động Iphone 11 Promax đăng nhập vào tài khoản zalo “Lộc Lộc” đăng kí bằng sim số không chính chủ (Nam không nhớ số thuê bao) nhắn tin đến zalo tên “Vina” của Nguyễn Văn H đăng kí số thuê bao 0877.130.064 lắp trong điện thoại di động Samsung Galaxy J6 để mua số lô, số đề nội dung: “lo 04.200d 500k de” ý N hỏi mua số lô 04 = 200 điểm, số đề 04 = 500.000đồng, mỗi số lô H bán với giá 21.800 đồng/điểm, tổng số tiền N mua số lô, số đề: 4.860.000đồng. H nhắn lại: “Ok” có nghĩa đồng ý bán số lô, số đề trên cho N.
Hồi 17 giờ 47 phút ngày 26/5/2024, N tiếp tục sử dụng tài khoản zalo “Lộc Lộc” nhắn tin đến tài khoản zalo “Vina” của H nội dung: "Đê 81/44/120k mc đê 43/45/18/80k mc ba càng 444/481/270k", ý N mua số đề 81, 44 mỗi số = 120.000 đồng, số đề 43, 45, 18 mỗi số = 80.000 đồng, số đề ba càng 444, 481 mỗi số = 270.000 đồng. Tổng số tiền N mua số đề: 1.020.000 đồng. H nhắn lại: “Ok” có nghĩa đồng ý bán các số đề trên cho N.
Hồi 18 giờ 02 phút ngày 26/5/2024, N tiếp tục sử dụng tài khoản zalo “Lộc Lộc” nhắn tin đến tài khoản zalo “Vina” của H nội dung: "3 cang 267.492.551.437. x 60k”, ý N hỏi mua các số đề ba càng gồm: 267, 492, 551, 437 mỗi số 60.000 đồng. Tổng số tiền N mua số đề ba càng = 240.000 đồng. H nhắn lại nội dung: “Ok” tức đồng ý bán các số đề trên cho N.
Tổng số tiền đánh bạc bằng hình thức mua, bán số lô số đề giữa H và N ngày 26/5/2024 là 6.120.000đồng (Sáu triệu một trăm hai mươi nghìn đồng). Đối chiếu với kết quả xổ số miền B mở thưởng trong ngày, N không trúng số lô, số đề nào nên N đã trả H tiền thua bạc 6.120.000đồng vào tối cùng ngày bằng hình thức đưa tiền mặt.
Phương thức đánh bạc bằng ghi số lô, số đề như sau: Đề loại 02 số, trúng khi 02 số này trùng với 02 số cuối cùng của giải đặc biệt trong kết quả xổ số Miền Bắc, tỷ lệ thắng thua là 01 ăn 70 lần, nếu trượt thì mất số tiền đã mua số đề đó. Lô loại 02 số trùng với 02 số cuối của bất kì giải thưởng nào thì người mua thắng, H trả theo tỉ lệ 80.000 đồng cho một điểm lô. Nếu trúng nhiều lần sẽ được trả thưởng bằng số lần trúng thưởng tương ứng, tối đa là 03 lần. Đề ba càng trúng khi 03 số này trùng với 03 số cuối của giải đặc biệt trong kết quả xổ số, tỷ lệ thắng thua nếu trúng 1000 đồng được 400.000 đồng, nếu trượt thì mất số tiền đã mua.
Ngày 03/6/2024, H giao nộp cho cơ quan cảnh sát điều tra 01 điện thoại Samsung Galaxy J6, bên trong lắp 2 thẻ sim, sim 1 số: 0858666118, sim 2 số: 0877130064 đã qua sử dụng. Ngày 22/7/2024 H giao nộp 6.120.000đồng do bán số lô, số đề mà có.
Ngày 21/6/2024, Trần Văn N giao nộp cho cơ quan cảnh sát điều tra 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax, lắp sim số 0886386331, đã qua sử dụng.
Ngày 10/7/2024, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y tiến hành khám xét nơi ở của Nguyễn Văn H và Trần Văn N nhưng không thu giữ đồ vật hay tài liệu gì liên quan đến vụ án.
Đối với điện thoại di động thu giữ của Nguyễn Văn H, tại bản Kết luận giám định số 1849/KLGĐ-KTHS ngày 25/6/2024 phòng K Công an tỉnh V, kết luận:
- Chụp được 01 ảnh nội dung tin nhắn giữa tài khoản zalo đang đăng nhập trên mẫu cần giám định với tài khoản zalo tên “Lộc Lộc” ngày 26/5/2024.
- Không tìm thấy dữ liệu zalo lưu trong 02 thẻ sim in hàng số 89840200010775943483 và 898408100087578205989 gắn trên mẫu cần giám định.
Tại phụ lục Kết luận giám định thể hiện:
+ Thông tin tài khoản zalo đăng nhập trên mẫu gửi giám định có tên V1, ngày sinh 02/02/1992, sử dụng số điện thoại 0877130064.
+ Nội dung tin nhắn giữa tài khoản zalo đăng nhập trên mẫu cần giám định với tài khoản zalo có tên “Lộc Lộc” trong ngày 26/5/2024 như sau: Tin nhắn từ tài khoản zalo “Lộc Lộc” hồi 17 giờ 43 phút thể hiện “lo 04.200d 500k de”. Tin nhắn từ tài khoản zalo gửi giám định Vina thể hiện nội dung: “ok”. Tin nhắn từ tài khoản zalo “Lộc Lộc” hồi 17 giờ 47 phút thể hiện “Đê 81/44/120k mc đê 43/45/19/80k mc ba càng 444/481/270k”. Tin nhắn từ tài khoản zalo gửi giám định là V1 thể hiện nội dung: “ok”. Tin nhắn từ tài khoản zalo “Lộc Lộc” hồi 18 giờ 02 phút thể hiện “3cang 267.492.551.437x60k”. Tin nhắn từ tài khoản zalo gửi giám định Vina thể hiện nội dung: “ok”.
Đối với điện thoại di động thu giữ của Trần Văn N, tại bản kết luận giám định số 2189/KLGD-KTHS ngày 31/7/2024, phòng K Công an tỉnh V, kết luận: Không tìm thấy thông tin tài khoản zalo có tên “Lộc Lộc đăng nhập trên mẫu gửi giám định.
Kết quả kiểm tra điện thoại của Nguyễn Văn H ngày 03/6/2024: Mục “Tin nhắn zalo” phát hiện tin nhắn giữa tài khoản zalo tên “Lộc Lộc” đến tài khoản zalo "Vina” của Nguyễn Văn H vào ngày 26/5/2024 có nội dung liên quan đến hành vi mua, bán số lô, số đề trái phép. Nguyễn Văn H xác nhận: Đây là điện thoại của H sử dụng sim Vinaphone để liên lạc với người thân, bạn bè còn sim rác mạng Itel đăng kí tài khoản zalo tên “Vina” H sử dụng nhắn tin bán số lô, số đề với zalo tên “Lộc Lộc” của Trần Văn N vào ngày 26/5/2024; mục “Tin nhắn" và "Messenger”: Không phát hiện thông tin gì liên quan đến hành vi đánh bạc.
Kết quả kiểm tra điện thoại của Trần Văn N ngày 21/6/2024: Mục “Tin nhắn” trên điện thoại lắp sim số 0978459113: Có 13 tin nhắn, không phát hiện các tin nhắn việc đánh bạc. Kiểm tra album có 590 ảnh, 100 video không có nội dung nào liên quan đến hành vi đánh bạc hoặc hành vi vi phạm khác. Messenger: Không có nội dung gì.
Tại mục danh bạ zalo phần bạn bè có tài khoản “Pc Hanh” có thông tin cá nhân: Giới tính Nam, ngày sinh 02/02/1992, không hiển thị số điện thoại. Trần Văn N xác nhận: Đây là điện thoại Nam lắp sim rác, hiện không nhớ số thuê bao để tạo tài khoản zalo “Lộc Lộc” dùng để nhắn tin đánh bạc bằng hình thức mua số lô số đề với Nguyễn Văn H được N lưu tên zalo “Pc Hanh”. N tháo sim rác, thoát zalo “Lộc Lộc”, lắp sim 0978459113, đăng nhập tên tài khoản zalo “Trần Nam” để sử dụng.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 72/2024/HS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H, Trần Văn N phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt: Nguyễn Văn H 10 (mười) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
Ngoài ra bản án còn quyết định hình phạt đối với bị cáo khác và áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo trong vụ án và quyết định về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 07 tháng 10 năm 2024 bị cáo Nguyễn Văn H có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Quá trình xét xử phúc thẩm bị cáo nộp thêm tài liệu là giấy xác nhận của UBND xã Đ, huyện Y là bị cáo đang phải nuôi con nhỏ; Biên lai thu tiền số 0001318 ngày 18/11/2024 của Chi cục thi hành án huyện Yên Lạc thể hiện bị cáo H tự nguyện nộp tiền phạt bổ sung và tiền án phí hình sự sơ thẩm của bản án hình sự sơ thẩm số 72/2024/HS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc với số tiền 10.200.000đ.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc phát biểu quan điểm, phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H. Giữ nguyên hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số 72/2024/HS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc đối với bị cáo Nguyễn Văn H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H trong hạn luật định hợp lệ được chấp nhận.
Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại cấp sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì, do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án của Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai những tham gia tố tụng khác, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Văn H và Trần Văn N thống nhất đánh bạc với nhau bằng hình thức ghi số lô số đề, cụ thể: Ngày 26/5/2024, Nam mua của H số lô 04 =200 điểm, số đề 04 = 500.000 đồng, số đề 81, 44 mỗi số 120.000 đồng, số đề 43, 45,18 mỗi số 80.000 đồng, số đề ba càng 267, 492, 551, 437 mỗi số 60.000 đồng. Tổng số tiền N mua số lô, số đề của H là 6.120.000 đồng, khi so kết quả sổ số kiến thiết miền B thì N không trúng thưởng. Như vậy, tổng số tiền H, Nam đánh bạc ngày 26/5/2024 là 6.120.000 đồng.
Với hành vi phạm tội nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, không oan sai.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Văn H, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị tại địa phương và gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân. Vì vậy hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
Trong vụ án này, Nguyễn Văn H tự đứng ra bán số lô, số đề mà không làm thư ký, không chuyển bảng cho ai nên H giữ vai trò đầu vụ đánh bạc. Về nhân thân: bị cáo H đã từng bị xét xử về tội đánh bạc, cụ thể, tại bản án hình sự phúc thẩm số 54/2016/HSPT ngày 05/9/2016, Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt H 10 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 08 tháng. Bị cáo tuy đã được xoá án tích nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội đánh bạc, thể hiện sự coi thường pháp luật. Vì vậy, cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo H 10 tháng tù là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo có nộp thêm tài liệu là giấy xác nhận của UBND xã Đ, huyện Y là bị cáo đang phải nuôi con nhỏ; Biên lai thu tiền số 0001318 ngày 18/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Lạc thể hiện bị cáo H tự nguyện nộp tiền phạt bổ sung và tiền án phí hình sự sơ thẩm của bản án hình sự sơ thẩm số 72/2024/HS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc với số tiền 10.200.000đ. Đây là tiền bị cáo H tự nguyện nộp tiền để thi hành án, và việc xác nhận bị cáo phải nuôi con nhỏ không phải là tình tiết giảm nhẹ mới nên cấp phúc thẩm không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm. Tuy nhiên, trong bản án phúc thẩm cần xác nhận bị cáo H đã nộp đủ tiền phạt bổ sung và tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo H không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc là phù hợp được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 72/2024/HS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc.
2. Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt: Nguyễn Văn H 10 (mười) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
3. Xác nhận bị cáo Nguyễn Văn H đã nộp đầy đủ số tiền phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm của bản án hình sự sơ thẩm số 72/2024/HS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc với số tiền 10.200.000đ (Mười triệu hai trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0001318 ngày 18/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Lạc.
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; - VKSND huyện Yên Lạc; - Sở tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc; - Công an tỉnh Vĩnh Phúc; - Công an huyện Yên Lạc; - TAND huyện Yên Lạc; - THADS huyện Yên Lạc; - Bị cáo; - Lưu Hồ sơ, HCTP, Toà HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Mạnh |