- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hồ N G - Trần Q T"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Hồ Ngọc G được ly hôn với ông Trần Quốc T.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 134/2024/HNGĐ-ST Ngày 19 tháng 6 năm 2024 Về việc: Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kiều Trang
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Ngô Hoàng Sơn
Ông Hà Trọng Tâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thúy Kiều là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
Ngày 19 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 201/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2024 về việc: Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 151/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Hồ Ngọc G, sinh năm 1994 (xin vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp Bình Đ, xã T thành phố C, tỉnh Cà Mau.
Bị đơn: Ông Trần Quốc T, sinh năm 1994 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp B, xã Tân T, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện nguyên đơn bà Hồ Ngọc G trình bày:
- Về hôn nhân: Bà và ông Trần Quốc T kết hôn với nhau vào năm 2012, hôn nhân tự nguyện và đến năm 2014 đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại UBND xã T, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Nguyên nhân mâu thuẫn là trong quá trình chung sống vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nhận thấy cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài nên bà yêu cầu được ly hôn với ông T.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 người con chung tên Trần Minh K, sinh ngày 17/3/2014, con chung đang sống cùng với bà. Khi ly hôn, bà yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi con, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà G xác định không có, không yêu cầu xem xét.
Đối với bị đơn Trần Quốc T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để hòa giải, công khai chứng cứ nhưng vẫn vắng mặt không lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Bà Hồ Ngọc G có đơn xin xét xử vắng mặt. Ông Trần Quốc T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để xét xử nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: Bà Hồ Ngọc G và ông Trần Quốc T kết hôn với nhau vào năm 2012, hôn nhân tự nguyện và đến năm 2014 đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã T, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà G và ông T được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp và bảo vệ.
Quá trình giải quyết vụ án, bà G xác định nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường cự cải, mâu thuẫn trầm trọng, không hàn gắn được. Bà G khẳng định tình cảm vợ chồng của bà đối với ông T không còn nên đời sống hôn nhân không thể duy trì, trường hợp tiếp tục chung sống sẽ không mang lại hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên cương quyết xin được ly hôn với ông T. Đối với ông Trần Quốc T, Tòa án đã thông báo cho ông T biết yêu cầu khởi kiện của bà G nhưng ông T không ý kiến gì và cũng không có văn bản gửi Tòa án. Do đó, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của bà Hồ Ngọc G được ly hôn với ông Trần Quốc T.
Về con chung: Vợ chồng có 01 người con chung tên Trần Minh K, sinh ngày 17/3/2014, con chung đang sống cùng với bà G, đã ổn định về cuộc sống, con chung có nguyện vọng được ở cùng với mẹ, do đó cần giao con chung cho bà G tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp, không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con, có quyền lui tới, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà G xác định không có, không yêu cầu xem xét, giải quyết.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Hồ Ngọc G phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56 và 58 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Hồ Ngọc G được ly hôn với ông Trần Quốc T.
2. Về con chung: Giao con chung tên Trần Minh K, sinh ngày 17/3/2014 cho bà Hồ Ngọc G tiếp tục nuôi dưỡng, không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Ông Trần Quốc T không trực tiếp nuôi con, có quyền lui tới thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
4. Về án phí sơ thẩm: Bà Hồ Ngọc G phải chịu án phí hôn nhân và gia đình 300.000 đồng. Ngày 05/4/2024 bà G đã nộp tạm ứng 300.000 đồng theo biên lai số 0008348 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau được chuyển thu đối trừ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm, nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND thành phố Cà Mau; - Chi cục THADS thành phố Cà Mau; - UBND xã Tân Thành; TP. Cà Mau; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu văn thư. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Kiều Trang |