vanban.org

Bản án 134/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Dương Thị Bích T đối với bị đơn ông Phạm Đức T1 về việc tranh chấp ly hôn. 1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Dương Thị Bích T được ly hôn với ông Phạm Đức T1. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN BÌNH CHÁNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 134/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 23/02/2024
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Việt

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Hoàng Thu;

2. Bà Nguyễn Thị Nguyên;

- Thư ký phiên tòa: Ông Quách Minh Tuyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 02 năm 2024, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 787/2023/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2023 về việc "Tranh chấp ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 01 năm 2024 giữa:

1. Nguyên đơn: Bà Dương Thị Bích T, sinh năm: 1981 (vắng mặt – có yêu cầu giải quyết vắng mặt);

Địa chỉ: A tổ G, ấp B, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Ông Phạm Đức T1, sinh năm: 1977 (vắng mặt – có yêu cầu giải quyết vắng mặt);

Địa chỉ: A tổ G, ấp B, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Dương Thị Bích T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Phạm Đức T1 sống chung với nhau từ năm 2002, do hai người tự tìm hiểu với nhau. Hai người có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn. Thời gian đầu sống chung, hai người chung sống rất hạnh phúc. Đến năm 2010, hai người bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do ông T1 không tu chí làm ăn, thường xuyên gây ra nợ nần. Hai người sống chung nhà nhưng vợ chồng không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Phạm Đức T1.

Về con chung: Quá trình sống chung, vợ chồng có 01 con chung tên Phạm Bích Uyên N, giới tính nữ, sinh năm 2003 (đã trưởng thành).

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Phạm Đức T1 trình bày:

Ông và bà Dương Thị Bích T chung sống với nhau từ năm 2002, do hai người tự tìm hiểu được khoảng 02 năm. Hai người có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn. Trong quá trình sống chung vợ chồng sống rất hạnh phúc. Trong cuộc sống, vợ chồng có mâu thuẫn, cãi vả nhỏ. Vợ chồng không có sống ly thân. Nay bà Dương Thị Bích T yêu cầu ly hôn với ông thì ông không đồng ý. Ông đề nghị Tòa án hòa giải cho vợ chồng đoàn tụ với nhau.

Về con chung: Quá trình sống chung, vợ chồng có 01 con chung tên Phạm Bích Uyên N, giới tính nữ, sinh năm 2003 (đã trưởng thành).

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu ý kiến:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Dương Thị Bích T yêu cầu được ly hôn với bị đơn ông Phạm Đức T1. Đây là tranh chấp về ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại địa bàn huyện B nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.

. Về sự vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về các yêu cầu của đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:

. Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số 72 quyển số 01 ngày 21/8/2002 do Ủy ban nhân dân phường A, quận D, Thành phố Hồ Chí Minh cấp thì quan hệ hôn nhân giữa bà Dương Thị Bích T và ông Phạm Đức T1 là vợ chồng được pháp luật công nhận quy định tại Điều 9, Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn xác định đời sống chung vợ chồng giữa bà T và ông T1 phát sinh nhiều mâu thuẫn. Vào năm 2020, nguyên đơn bà T đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh giải quyết ly hôn với bị đơn ông T1. Tuy nhiên, bà T rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện và Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 911/2020/QĐST-HNGĐ ngày 17/9/2020. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông T1 xác định mâu thuẫn giữa hai vợ chồng chỉ là những mâu thuẫn nhỏ và ông yêu cầu Tòa án hòa giải cho vợ chồng ông được đoàn tụ nhưng ông T1 vẫn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, điều này cho thấy ông T1 đã không quan tâm đến tình trạng hôn nhân, không có thiện chí trong việc hòa giải hàn gắn tình cảm vợ chồng. Hội đồng xét xử xét thấy cuộc sống hôn nhân muốn có hạnh phúc thì phải bắt đầu từ tình cảm cả hai phía. Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình; 2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác”. Do đó, bà T và ông T1 đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của vợ chồng. Cho nên, tình trạng hôn nhân giữa bà T và ông T1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của bà Dương Thị Bích T là có cơ sở, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Về con chung: Bà T và ông T1 có 01 (một) con chung tên con chung tên Phạm Bích Uyên N, giới tính nữ, sinh năm 2003 (đã trưởng thành). Do đó, Tòa án không đặt ra để xem xét, giải quyết.

. Về tài sản chung: Hai bên yêu cầu được tự thỏa thuận với nhau. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết vấn đề về tài sản chung.

. Về nợ chung: Hai bên cùng xác định không có. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết vấn đề về nợ chung.

. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận;

. Về án phí: Bà Dương Thị Bích T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Điều 9, Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000;

- Điều 19, Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58 và Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Dương Thị Bích T đối với bị đơn ông Phạm Đức T1 về việc tranh chấp ly hôn.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Dương Thị Bích T được ly hôn với ông Phạm Đức T1.

Giấy chứng nhận kết hôn số 72 quyển số 01 ngày 21/8/2002 do Ủy ban nhân dân phường A, quận D, Thành phố Hồ Chí Minh cấp không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

1.2. Về con chung: Bà T và ông T1 có 01 (một) con chung tên con chung tên Phạm Bích Uyên N, giới tính nữ, sinh năm 2003 (đã trưởng thành). Do đó, Tòa án không đặt ra để xem xét, giải quyết.

1.3. Về tài sản chung: Hai bên yêu cầu được tự thỏa thuận với nhau và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không đặt ra để giải quyết.

1.4. Về nợ chung: Hai bên cùng xác định không có nên Tòa án không đặt ra để giải quyết.

2. Về án phí: Bà Dương Thị Bích T phải chịu án phí sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số AA/2023/0020262 ngày 21 tháng 9 năm 2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà T đã nộp đủ án phí.

3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được giao bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ