- Tranh chấp gì? án hình sự — "vụ án hình sự thụ lý số: 128/2023/TLST-HS ngày 22 tháng 6 năm 2023 - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 134/2023/HS-ST Ngày 24-7-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Quyền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Phước
Bà Lý Thị Bạch Tuyết
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Trúc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Thành.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đồng - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Long Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 128/2023/TLST-HS ngày 22 tháng 6 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 143/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn Q, sinh năm 2002 tại An Giang; Giới tính: nam; Nơi đăng ký thường trú: ấp P, xã L, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang; Nơi ở (sinh sống): khu phố L1, phường T, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Hoà hảo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1973; con bà Nguyễn Thị Tr, sinh năm 1977; Chưa có vợ, con.
Tiền án: không.
Tiền sự: Ngày 01/02/2021 bị Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, với thời hạn 18 tháng (Quyết định số 54/2021/QĐ-TA). Chấp hành xong ngày 22/3/2022.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 09/01/2023, chuyển tạm giam cho đến nay (ngày 24/7/2023), tại Nhà tạm giữ Công an huyện Long Thành. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 23 giờ 40 phút ngày 08/01/2023, tổ công tác 161 Công an huyện Long Thành đi tuần tra trên đường Lôi Hổ thuộc ấp 8 xã P1, huyện Long Thành thì phát hiện nhóm thanh niên nam nữ trong đó có Nguyễn Văn Q đang tụ tập bên đường có biểu hiện nghi vấn, nên tiến hành kiểm tra thì Q ném túi ny lon xuống đường, tổ tuần tra kiểm tra túi ny lon kích thước 04 cm x 06 cm phát hiện bên trong có chứa tinh thể màu trắng là ma túy tổng hợp. Q khai vào lúc 18 giờ 30 phút cùng ngày Q mua số ma tuý trên tại cổng ba chữ A thuộc Trung tâm văn hoá huyện Long Thành của một người thanh niên tên T1 (không rõ tên tuổi, địa chỉ) với giá 300.000 đồng rồi giấu trong túi quần Jean để sử dụng. Đến 23 giờ 40 phút cùng ngày Q đến chơi với nhóm bạn tại đường Lôi Hổ thì bị tổ công tác 161 Công an huyện Long Thành phát hiện phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng và lập hồ sơ ban đầu chuyển Công an huyện Long Thành giải quyết theo thẩm quyền.
Tại Kết luận giám định số 46/KL-KTHS ngày 12/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,3357 gam, loại Methamphetamine.
Việc thu giữ: 01 gói niêm phong chứa ma túy được hoàn lại sau khi giám định số 46/KL-KTHS.
Tại cáo trạng số 117/CT-VKSLT ngày 19 tháng 6 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q từ 20 tháng tù đến 24 tháng tù.
Về xử lý vật chứng Viện kiểm sát đề nghị: Đối với 01 gói niêm phong chứa ma túy được hoàn lại sau khi giám định số 46/KL-KTHS đề nghị tịch thu tiêu hủy;
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội. Bị cáo thống nhất về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo. Bị cáo không có ý kiến hay tranh luận gì khác.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tố tụng hình sự: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Long Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo Q có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có sự mâu thuẫn; phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định, tang vật của vụ án, lời khai của người chứng kiến và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án nên đã đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 23 giờ 40 ngày 08/01/2023, tại đường Lôi Hổ thuộc ấp 8 xã An Phước, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai Nguyễn Văn Q có hành vi tàng trữ 0,3357 gam ma túy loại Methamphetamin. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Q đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành truy tố bị cáo theo tội danh và điểm, khoản, Điều nêu trên là có căn cứ đúng pháp luật.
Về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm tới chế độ quản lý độc quyền chất ma tuý của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, làm gia tăng các tệ nạn xã hội; ngoài ra ma tuý còn ảnh hưởng đến sức khoẻ, thể chất của con người. Vì vậy cần phải có hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo giáo dục và răn đe phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Q thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nên bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 gói niêm phong chứa ma túy được hoàn lại sau khi giám định số 46/KL-KTHS, xét không được phép sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Về vấn đề khác: Đối với đối tượng tên T1 có hành vi bán ma tuý cho bị cáo Q, hiện không rõ nhân thân lai lịch. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về các vấn đề trong vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử; riêng mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị có một phần phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Nguyễn Văn Q: 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 09/01/2023.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong chứa ma túy được hoàn lại sau khi giám định số 46/KL-KTHS.
Vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Thành theo Quyết định chuyển vật chứng số 75/QĐ-VKSLT ngày 19/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành và Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20/6/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Thành).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án bị cáo Nguyễn Văn Q phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn Q có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Tòa án ND tỉnh Đồng Nai;
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- Viện KSND tỉnh Long Thành;
- Viện KSND H. Long Thành;
- THADS H. Long Thành;
- Cơ quan điều tra CA H. Long Thành;
- Bị cáo;
- UBND xã Phú Long, Tân Phú, An Giang;
- Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
- Lưu.
Phạm Ngọc Quyền
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Phước Lý Thị Bạch Tuyết
Phạm Ngọc Quyền
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; - VKSND huyện Long Thành; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - Công an huyện Long Thành; - Chi cục THADS huyện Long Thành; - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai; - Lưu. | Nguyễn Thị Phụng |