vanban.org

Bản án 134/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước Tuyên án 02/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn Q, Vũ Hoàng L, Trương Hùng D, Hoàng Văn P và Trương A S phạm Tội đánh bạc.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 01 năm tù (một năm tù), cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 năm (hai năm) kể từ ngày tuyên án. Xử phạt bị cáo Vũ Hoàng L 09 tháng tù (chín tháng tù), cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 năm, 06 tháng (một năm, sáu tháng) kể từ ngày tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Q - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn Q, Vũ Hoàng L, Trương Hùng D, Hoàng Văn P và Trương A S phạm Tội đánh bạc.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÙ ĐĂNG
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 134/2023/HSST
Ngày: 02/11/2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Thanh;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đức Hòa;

Bà Lê Thị Thận,

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Quốc Hải – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Đàm - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 128/2023/HSST ngày 12 tháng 10 năm 2023, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn Q, sinh năm 1972, tại tỉnh Thanh Hóa.

Căn cước công dân số: 03807203XXXX

Nơi cư trú: Thôn X, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước.

Nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Danh B và bà Đinh Thị L1; bị cáo có vợ và 03 người con, lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 2001; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày XX/XX/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng xử phạt 09 tháng tù treo, phạt bổ sung 10.000.000 đồng về Tội đánh bạc theo Bản án số 63/HSST. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ Bản án và đã được xóa án tích.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, (có mặt).

2. Vũ Hoàng L, sinh năm 1971, tại tỉnh Ninh Bình.

Căn cước công dân số: 070071005XXX

Nơi cư trú: Thôn X, xã B, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.

Nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ văn hóa: 3/12 dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Ngọc Lại và bà Vũ Thị Tươi; bị cáo có vợ và 03 người con lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2004; tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, (có mặt).

3. Trương Hùng D, sinh năm 1986, tại tỉnh Kiên Giang.

Căn cước công dân số: 091086012XXX

Nơi cư trú: Thôn X, xã B, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.

Nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Hùng V và bà Vũ Thị T; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, (có mặt).

4. Hoàng Văn P, sinh năm 1984, tại tỉnh Nam Định.

Căn cước công dân số: 036084022XXX

Nơi cư trú: Thôn X, xã B, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước;

Nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Xuân H và bà Lưu Thị N; bị cáo có vợ và 02 người con lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, (có mặt).

5. Trương A S, sinh năm 1962, tại tỉnh Đồng Nai.

Căn cước công dân số: 075062009XXX

Nơi cư trú: Thôn X, xã B, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.

Nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Hoa; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương S và bà Vòng A Mùi; bị cáo có vợ và 03 đã trưởng thành; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 07/8/2023, Công an huyện Bù Đăng phối hợp Công an xã Bình Minh kiểm tra bắt quả tang Nguyễn Văn Q, Trương A S, Trương Hùng D, Hoàng Văn P và Vũ Hoàng L đang có hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền, hình thức đánh“Phỏm” tại nhà của Vũ Hoàng L thuộc Thôn X, xã B, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước. Công an thu giữ trên chiếu bạc số tiền 11.300.000 đồng, 01 bộ bài tây, 01 cái chiếu, thu trên người Trương A S 3.000.000 đồng để điều tra, xử lý theo quy định cảu pháp luật.

Quá trình chơi, Q sử dụng 4.000.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt thua 2.300.000 đồng; D sử dụng 2.000.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt thua 700.000 đồng; P sử dụng 1.600.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt thắng 100.000 đồng; L sử dụng 2.700.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt thắng 3.400.000 đồng. S mang theo 4.000.000 đồng, sử dụng 1.000.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt thua 5.00.000 đồng. Tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 11.300.000 đồng.

- Về vật chứng vụ án: Đã chuyển số tiền 11.300.000 đồng, sử dụng vào việc đánh bạc, 3.000.000 đồng của Trương A S, 01 bộ bài tây, 01 cái chiếu đến Kho bạc Nhà nước và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bù Đăng để phục vụ việc truy tố, xét xử.

Tại Cáo trạng số 132/CT –VKS.BĐ ngày 11/10/2023, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố các bị cáo Nguyễn Văn Q, Vũ Hoàng L, Trương Hùng D, Hoàng Văn P và Trương A S về Tội đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát khẳng định nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích tính chất vụ án, nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh đề nghị tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn Q, Vũ Hoàng L, Trương Hùng D, Hoàng Văn P và Trương A S phạm Tội đánh bạc.

Về hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q từ 09 đến 12 tháng tù. Cho hưởng án treo.

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đề nghị xử phạt bị cáo Vũ Hoàng L từ 06 đến 09 tháng tù. Cho hưởng án treo.

Đề nghị xử phạt bị cáo Trương Hùng D từ 06 đến 09 tháng tù. Cho hưởng án treo.

Đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Văn P từ 06 đến 09 tháng tù. Cho hưởng án treo.

Đề nghị xử phạt bị cáo Trương A S từ 06 đến 09 tháng tù. Cho hưởng án treo.

Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, đề nghị:

Xử phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Văn Q từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

Xử phạt bổ sung bị cáo Vũ Hoàng L từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

Xử phạt bổ sung bị cáo Trương Hùng D từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

Xử phạt bổ sung bị cáo Hoàng Văn P từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

Về vật chứng vụ án: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo Nguyễn Văn Q, Vũ Hoàng L, Trương Hùng D, Hoàng Văn P và Trương A S thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, không có ý kiến tranh luận về tội danh, hình phạt và các vấn đề khác đối với đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Bù Đăng, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Ngày 14/3/2023, Nguyễn Văn Q, Trương Hùng D, Hoàng Văn P, Trương A S và Vũ Hoàng L đánh bạc bằng hình thức “Phỏm” thắng thua bằng tiền với tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là 11.300.000 đồng tại nhà của bị cáo Vũ Hoàng L thuộc thôn 8, xã Bình Minh, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước thì bị Công an huyện Bù Đăng phối hợp với Công an xã Bình Minh bắt quả tang người cùng tang vật để điều tra, xét xử.

Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở khẳng định hành vi của các bị cáo Nguyễn Văn Q, Vũ Hoàng L, Trương Hùng D, Hoàng Văn P và Trương A S đã phạm vào Tội đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Điều 321. Tội đánh bạc

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.

Như vậy, nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là trái phép nhưng do coi thường pháp luật nên cố ý thực hiện. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến trật tự công cộng và nếp sống văn minh xã hội mà còn làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

Xét toàn bộ vụ án, tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Các bị cáo đánh bạc thuộc hình thức nhiều người tham gia đánh bạc với nhau, tham gia với vai trò đồng phạm.

Trong đó, bị cáo Nguyễn Văn Q đã từng có 01 tiền án về Tội đánh bạc. Mặc dù, đã được xóa án tích nhưng vẫn bị coi là có nhân thân không tốt; bị cáo Vũ Hoàng L sử dụng chỗ ở của mình cho các bị cáo khác đánh bạc, bị cáo cũng trực tiếp tham gia đánh bạc nên hai bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự nặng hơn các bị cáo khác.

Đối với các bị cáo Trương Hùng D, Hoàng Văn P và Trương A S tham gia đánh bạc nên phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò đồng phạm.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo là con em lao động có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo Nguyễn Văn Q có trình độ văn hóa thấp nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, các bị cáo Vũ Hoàng L, Trương Hùng D, Hoàng Văn P và Trương A S phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Sau khi cân nhắc mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo và tình tiết giảm nhẹ mà các bị cáo được hưởng, Hội đồng xét xử thấy cần xử các bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội để giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng nên đề nghị của Viện kiểm sát về việc áp dụng hình phạt tù có điều kiện cho các bị cáo là có căn cứ, phù hợp với mục đích của hình phạt.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự thì Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xét thấy, các bị cáo đang ở trong độ tuổi lao động nên cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Riêng bị cáo Trương A S khi thực hiện hành phạm tội thì bị cáo đã ngoài 60 tuổi, bị cáo hết tuổi lạo động, không có thu nhập. Do đó, có thể miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 11.300.000 đồng mà các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc.

Cần trả lại cho bị cáo Trương A S số tiền 3.000.000 đồng.

Cần tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tây và 01 cái chiếu.

Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Quan điểm xử lý vụ án của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn Q, Vũ Hoàng L, Trương Hùng D, Hoàng Văn P và Trương A S phạm Tội đánh bạc.

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 01 năm tù (một năm tù), cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 năm (hai năm) kể từ ngày tuyên án.

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Vũ Hoàng L 09 tháng tù (chín tháng tù), cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 năm, 06 tháng (một năm, sáu tháng) kể từ ngày tuyên án.

Xử phạt bị cáo Trương Hùng D 08 tháng tù (tám tháng tù), cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 năm, 04 tháng (một năm, bốn tháng) kể từ ngày tuyên án.

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn P 08 tháng tù (tám tháng tù), cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 năm, 04 tháng (một năm, bốn tháng) kể từ ngày tuyên án.

Xử phạt bị cáo Trương A S 08 tháng tù (tám tháng tù), cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 năm, 04 tháng (một năm, bốn tháng) kể từ ngày tuyên án.

Áp dụng khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Văn Q 15.000.000 đồng, (mười lăm triệu đồng).

Xử phạt bổ sung bị cáo Vũ Hoàng L 15.000.000 đồng, (mười lăm triệu đồng).

Xử phạt bổ sung bị cáo Trương Hùng D 15.000.000 đồng, (mười lăm triệu đồng).

Xử phạt bổ sung bị cáo Hoàng Văn P 15.000.000 đồng, (mười lăm triệu đồng).

Giao các bị cáo Nguyễn Văn Q, Vũ Hoàng L, Trương Hùng D, Hoàng Văn P và Trương A S cho Ủy ban nhân dân xã Bình Minh, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.

[2] Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tuyên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 11.300.000 đồng do các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc.

Tuyên trả lại cho bị cáo Trương A S số tiền 3.000.000 đồng.

(Theo giấy nộp tiền vào tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Đăng tại Kho bạc nhà nước huyện Bù Đăng ngày 12/10/2023)

Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tây và 01 cái chiếu.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng số 0010085 ngày 11/10/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Bù Đăng và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bù Đăng).

[3] Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Nguyễn Văn Q, Vũ Hoàng L, Trương Hùng D, Hoàng Văn P và Trương A S mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ