vanban.org

Bản án 134/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 10/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Bùi Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Bùi Văn C 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26 tháng 12 năm 2022. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a và c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 và 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn C "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ Đ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số:134/2023/HS-ST
Ngày: 10 - 7 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ - TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Đỗ Thị Vân Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Minh Thọ

Bà Mai Lương Anh

- Thư ký phiên toà: Ông Huỳnh Ngọc Phú - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ - tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Hiền - Kiểm sát viên

Ngày 10 tháng 7 năm 2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 163/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 6 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 127/2023/QĐXXST - HS ngày 12/6/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Văn C, sinh năm:1987, tại: Thừa Thiên Huế; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 27B, đường Lê Hồng Phong, phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; nơi cư trú: Số 27B, đường Lê Hồng Phong, phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; trình độ học vấn: 06/12; nghề nghiệp: Tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Bùi Văn V, sinh năm: 1962 và bà: Lê Thị Th, sinh năm:1964; vợ: Vũ Thị Thúy L, sinh năm 1988 (đã ly hôn); có con: Bùi Lâm Quỳnh A, sinh năm 2011; chức vụ đoàn thể, đảng phái: Không; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 26/12/2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Văn C, sinh ngày 10/10/1987, HKTT: 27B Lê Hồng Phong, Phường D, Tp. Đ, là đối tượng sử dụng ma túy đá từ tháng 9 năm 2022. Vào ngày 05/11/2022, C đến khu vực đầu đèo Preen, Tp. Đ gặp một người tên Tr (không rõ nhân thân, lai lịch) để mua 100.000 đồng tiền ma túy đá. Sau khi đưa tiền cho người đàn ông tên Tr thì C được Tr đưa cho một đoạn ống nhựa màu trắng, được hàn kín hai đầu, bên trong có ma túy đá. Sau khi mua được ma túy, C đem về cất giữ trong người để khi nào có nhu cầu thì sử dụng. Ngày 09/11/2022, Công bị Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ mời lên làm việc vì liên quan đến vụ án Cố ý gây thương tích. Tại đây, C khai nhận bản thân có sử dụng ma túy đá và tự giác giao nộp một đoạn ống nhựa màu trắng, được hàn kín hai đầu bên trong có ma túy đá cho cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ lập biên bản thu giữ và niêm phong. C thừa nhận đây là số ma túy C mua về cất giữ và chưa kịp sử dụng. Ngoài ra, C còn giao nộp một đoạn ống thủy tinh kích thước 0,1cm x 0,8cm và một đoạn ống thủy tinh kích thước 0,1cm x 0,4cm.

* Tang vật thu giữ:

- 01(một) đoạn ống nhựa màu trắng, kích thước 0,1 x 0,2 được hàn kín, bên trong có chứa chất nghi là ma túy.

- 01(một) đoạn ống thủy tinh kích thước 0,1cm x 0,8cm.

- 01(một) đoạn ống thủy tinh kích thước 0,1cm x 0,4cm.

Ngày 15/11/2022, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng ban hành kết luận giám định số 1798/KL-KTHS; kết luận:

- Mẫu tinh thể đựng trong một đoạn ống nhựa được niêm phong gửi giám định là ma túy, khối lượng 0,1027 (g) (không phẩy một không hai bảy gam), loại Methamphetamine.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II, STT: 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP, ngày 15/5/2018 của Chính phủ (Sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 60/2020 ngày 29/5/2020 của Chính phủ).

Tại bản cáo trạng số 159/CT-VKSĐKL-LĐ ngày 31/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ truy tố bị cáo Bùi Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Văn C khai nhận, bản thân bị cáo là người sử dụng ma túy từ năm 2022, vào ngày 05/11/2022, bị cáo đến khu vực đầu đèo Pren, thành phố Đ để gặp một người tên Tr (không rõ nhân thân, lai lịch) để mua 100.000đ tiền ma túy. Sau đó bị cáo cất giữ ma túy trong người để khi nào có nhu cầu thì sử dụng. Ngày 09/11/2022, bị cáo bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ mời lên làm việc do có liên quan đến vụ án Cố ý gây thương tích, tại đây, bị cáo khai có sử dụng ma túy đá và khi cơ quan công an tiến hành kiểm tra xe của bị cáo thì phát hiện có ma túy nên bị cáo đã giao nộp một đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu bên trong có chứa ma túy đá như cáo trạng truy tố là hoàn toàn chính xác và xin được giảm nhẹ hình phạt.

Sau phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Bùi Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Văn C từ 12 đến 15 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy đã qua giám định và 01 (một) đoạn ống thủy tinh có kích thước 0,1cm x 0,8cm; 01 (một) đoạn ống thủy tinh có kích thước 0,1cm x 0,4cm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo Bùi Văn C: Vào ngày 05/11/2022, bị cáo đến khu vực đầu đèo Pren, thành phố Đ để gặp một người tên Tr (không rõ nhân thân, lai lịch) để mua 100.000đ tiền ma túy. Sau đó bị cáo cất giữ ma túy trong người để khi nào có nhu cầu thì sử dụng. Ngày 09/11/2022, bị cáo bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ mới lên làm việc do có liên quan đến vụ án Cố ý gây thương tích, tại đây, bị cáo khai có sử dụng ma túy đá và khi Cơ quan công an tiến hành kiểm tra xe ô tô của bị cáo thì phát hiện có ma túy và bị cáo giao giao nộp một đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu bên trong có chứa ma túy đá, CSĐT Công an thành phố Đ lập biên bản thu giữ và niêm phong. Tại kết luận giám định số 1798/KL-KTHS ngày 15/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng kết luận: Mẫu tinh thể đựng trong một đoạn ống nhựa được niêm phong gửi giám định là ma túy, khối lượng 0,1027 (g) (không phẩy một không hai bảy gam), loại Methamphetamine.

Xét thấy, bị cáo Bùi Văn C là người đã trưởng thành có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và là đối tượng sử dụng ma túy. Bị cáo biết rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng là đối tượng sử dụng ma túy và để có ma túy sử dụng, bị cáo vẫn thực hiện nhằm thỏa mãn cho nhu cầu cá nhân. Hành vi của Bùi Văn C không chỉ vi phạm pháp luật về chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội tại địa phương mà còn là một trong những nguyên nhân góp phần gây ra những tệ nạn xã hội khác. Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa; lời khai của bị cáo, trong quá trình điều tra, phù hợp với tài liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Có đủ căn cứ kết luận hành vi của Bùi Văn C phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự như cáo trạng số 159/CT-VKSĐL-LĐ ngày 31/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng truy tố và kết luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo không tự giác giao nộp ma túy mà chỉ khi Cơ quan công an tiến hành kiểm tra phát hiện thì bị cáo mới giao nộp do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 đối với bị cáo. Bị cáo thành khẩn khai báo thể hiện sự ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội của mình nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự là tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo là phù hợp.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ chưa xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng tên Trọc là người đã bán ma túy cho Bùi Văn C nên chưa có căn cứ để xử lý, khi nào xác định được sẽ xử lý sau.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan Điều tra đã thu giữ tang vật gồm: 01 (một) ống nhựa màu trắng trong được hàn kín, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng. Qua giám định, xác định là chất ma túy loại Methamphetamine (đã được niêm phong sau khi giám định) đây là chất cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy. Ngoài ra còn thu giữ của bị cáo 01(một) đoạn ống thủy tinh kích thước 0,1cm x 0,8cm và 01(một) đoạn ống thủy tinh kích thước 0,1cm x 0,4cm, xét thấy đây là dụng cụ dùng để sử dụng ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Bùi Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Bùi Văn C 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26 tháng 12 năm 2022.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a và c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 và 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy tang vật gồm: 01 (một) phong bì niêm phong bao gói sau giám định; 02 (hai) đoạn ống thủy tinh.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06/6/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đ).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Bùi Văn C phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ