vanban.org

Bản án 134/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La Tuyên án 25/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm p, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Cà Văn H phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt: Cà Văn H 02 năm 06 tháng tù (hai năm sáu tháng). Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 29/3/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ca Van H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm p, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG MÃ
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 134/2023/HS-ST
Ngày: 25-7-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lường Văn Quyết.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lò Văn Viễn.

2. Ông Lò Văn Thôn.

- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Phương Linh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sông Mã.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên tòa: Ông Sộng Nỏ Ly – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2023, tại Tr s Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự th lý số: 137/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 7 năm 2023, theo Quyết định đưa v án ra xét xử số: 130/2023/QĐXXST-HS ngày 13/7/2023, đối với bị cáo:

Cà Văn H, tên gọi khác: Không, sinh năm 1974; nơi cư trú: Bản C, xã C, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): 4/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lò Văn B và con bà: Cà Thị N; vợ: Lò Thị Đ, có 02 người con, con lớn sinh năm 1994, con nhỏ sinh năm 1996; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/3/2023 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Cà Văn X, sinh năm 1994 (con trai bị cáo). Nơi cư trú: Bản C, xã C, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên toà, nội dung v án được tóm tắt như sau:

Hồi 20 giờ 30 phút ngày 28/3/2023, tổ công tác Công an xã M phối hợp với Công an xã C, huyện Sông Mã làm nhiệm v phòng chống ma tuý tại bản L, xã M phát hiện một người đàn ông đang điều khiển xe mô tô hướng từ bản N, xã N về bản L, xã M, huyện Sông Mã có biểu hiện nghi vấn về tội phạm ma tuý nên đã yêu cầu dừng xe để kiểm tra hành chính. Khi dừng xe đối tượng khai nhận tên là Cà Văn H, sinh năm 1974 trú tại Bản C, xã C, huyện Sông Mã, qua kiểm tra phát hiện trong lòng bàn tay trái của H có 01 gói nilon màu hồng, bên trong chứa chất bột liên kết màu trắng và 01 viên nén màu hồng (H khai nhận là Hồng phiến và Heroine). Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng, ngoài ra còn tạm giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave RSX, biển kiểm soát 98N7 - 7623.

Ngày 29/3/2023, tại cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Mã, Hội đồng bóc m niêm phong đã tiến hành cân tịnh, xác định khối lượng và trích mẫu giám định, kết quả:

- 01 viên nén màu hồng có khối lượng là 0,09 gam đã sử d ng toàn bộ để làm mẫu gửi giám định ký hiệu H1;

- Số bột màu trắng liên kết có khối lượng là 0,92 gam đã trích 0,10 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu H2, vật chứng còn lại 0,82 gam ký hiệu L.

Tại bản kết luận giám định số 714/KL ngày 31/3/2023 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: “Mẫu ký hiệu H1 gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,09 gam. Mẫu ký hiệu H2 gửi giám định là ma tuý; Loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,10 gam. Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 0,09 gam, loại Methamphetamine và 0,92 gam, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất”.

Quá trình điều tra xác định được như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 28/3/2023, H cầm theo 01 bơm kim tiêm và số tiền 150.000 đồng (là tiền do H lao động tiết kiệm mà có), rồi một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát 98N7 – 7623 (xe của con trai tên Cà Văn X) đi từ nhà bản C, xã C đến bản N, xã N, huyện Sông Mã với m c đích tìm mua ma tuý để sử d ng. Khi đến bản N, H gặp một người đàn ông dân tộc Mông không rõ danh tính đang đi bộ đường, H dừng lại hỏi mua được một ít Heroine và 01 viên Hồng phiến được gói bằng mảnh nilon màu hồng với số tiền 150.000 đồng. Mua được ma tuý H đi về được một đoạn thì trích ra một ít Heroine để sử d ng bằng hình thức chích vào cơ thể, sử d ng ma tuý xong H vứt bơm kim tiêm đi và gói phần ma tuý còn lại đem về để sử d ng tiếp. Khi H về đến bản L, xã M, Sông Mã thì gặp tổ công tác Công an xã M và Công an xã C, huyện Sông Mã làm nhiệm v kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang thu giữ và niêm phong vật chứng, tài sản như đã nêu trên.

Cáo trạng số: 87/CT-VKSSM ngày 05 tháng 7 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, truy tố Cà Văn H về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp d ng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm p, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Bị cáo sử d ng ma tuý và không có tài sản nên không áp d ng hình phạt bổ sung (là phạt tiền); bị cáo được miễn án phí; vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật. Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa v liên quan có quyền kháng cáo.

Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa v liên quan không có ý kiến tranh luận. Sau khi được nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan điều tra công an huyện Sông Mã - Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện huyện Sông Mã - Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ t c quy định của Bộ luật tố t ng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa v liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó, các hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về chứng cứ xác định tội danh:

- Với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ v án có đủ căn cứ chứng minh: Ngày 28/3/2023 Cà Văn H tìm mua được 01 c c nhỏ Heroine và 01 viên Hồng phiến với số tiền 150.000 đồng của một người đàn ông không rõ danh tính gặp ngoài đường thuộc bản N, xã N, huyện Sông Mã. Mua được ma tuý H đã trích một ít Heroine để sử d ng, phần Heroine và viên Hồng phiến còn lại H mang về nhà nhằm m c đích sử d ng. Khi đang trên đường về đến bản L, xã M, huyện Sông Mã thì gặp tổ công tác Công an xã M và Công an xã C, huyện Sông Mã làm nhiệm v , phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng 0,92 gam Heroine; 0,09 gam Methamphemine và 01 xe mô tô. Tổng khối lượng ma tuý thu giữ được của bị cáo là 1,01 gam. M c đích Tàng trữ để sử d ng cá nhân.

- Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội; lời khai nhận hoàn toàn thống nhất với lời khai tại cơ quan Điều tra, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang cùng lời khai của người chứng kiến và phù hợp với thông báo kết luận giám định về ma tuý; lời khai nhận của bị cáo cũng phù hợp với nội dung, tội danh của bản Cáo trạng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ v án. Quá trình xét hỏi, tranh luận không phát sinh tình tiết mới. Như vậy, Hội đồng xét xử có cơ s kết luận: Bị cáo Cà Văn H phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, kh i tố của cơ quan Điều tra và truy tố tội phạm của Viện kiểm sát đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm sự quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy. Hành vi của bị cáo gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây bức xúc trong nhân dân. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết hành vi Tàng trữ ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Do đó, cần có mức hình phạt tương xứng và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, nhằm cải tạo, giáo d c bị cáo và để phòng ngừa chung.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có ba tình tiết giảm nhẹ là (Người khuyết tật, dạng khuyết tật nhìn, mức độ: Nặng; ngoài ra bị cáo thành khẩn khai báo và có bố đẻ là ông Cà Văn B được Nhà nước tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhất). Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần áp d ng cho bị cáo được hư ng.

Về vấn đề khác liên quan trong v án:

- Đối với người đàn ông dân tộc Mông theo bị cáo khai đã bán ma túy cho bị cáo, tại địa phận đường thuộc bản N, xã N, huyện Sông Mã. Do bị cáo không biết tên, địa chỉ c thể của người này nên Cơ quan điều tra không có cơ s để điều tra, m rộng v án là có căn cứ, cần chấp nhận.

- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX biển kiểm soát 98N – 7623, đăng ký mang tên Nguyễn Sơn T, do Cà Văn X (con trai bị cáo) mua lại năm 2022 nhưng chưa làm thủ t c sang tên. Xe không có trong cơ s dữ liệu vật chứng. Ngày 28/3/2023 bị cáo sử d ng xe mô tô đi mua ma tuý thì anh Cà Văn X không biết nên không đồng phạm với hành vi của bị cáo. Ngày 21/6/2023, cơ quan Điều tra - Công an huyện Sông Mã đã trả lại chiếc xe mô tô cho chủ s hữu là có căn cứ, tại phiên toà anh Cà Văn X không có yêu gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Vật chứng của v án còn lại: 0,82 gam Heroine và các đồ vật liên quan là vật cấm lưu hành và vật không còn giá trị sử d ng, cần tịch thu tiêu huỷ.

Về hình phạt bổ sung và án phí: Bị cáo không có tài sản, là dân tộc thiểu số, cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên không áp d ng hình phạt bổ sung (là phạt tiền) và được miễn án phí.

Đối với quan điểm của Kiểm sát viên: Về mức án và các vấn đề khác đối với bị cáo đều phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm p, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Cà Văn H phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt: Cà Văn H 02 năm 06 tháng tù (hai năm sáu tháng). Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 29/3/2023.

Không áp d ng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ các đồ vật: 01túi Nilon màu trắng chứa 0,82 gam Heroine, 01 mảnh Nilon màu hồng và 01 phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc m . Được đựng trong 01 phong bì niêm phong do bưu điện Việt Nam phát hành, đã niêm phong kín.

(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 82 ngày 03/7/2023 của Viện kiểm sát huyện Sông Mã và biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/7/2023 giữa Chi cục thi hành án dân sự và Công an huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La).

3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14. Bị cáo được miễn án phí hình sự.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật tố t ng hình sự. Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa v liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án ngày 25/7/2023.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ