vanban.org

Bản án 134/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị

2/. Về con chung: Giao người con tên TTND, sinh ngày 23/12/2014 cho chị H Chị HTHH không đặt ra yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Huỳnh Thị Hồng Hạnh - Trần Văn Toàn"
  • Tòa quyết gì? 1/. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PL
TỈNH BL

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 134/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 08/9/2023
(V/v: Tranh chấp yêu cầu xin
ly hôn và nuôi con chung)

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PL, TỈNH BL

V i thành ph n H i đ ng xét x s th m g m có:

h m phán - h t a phi n t a: Ông Danh Văn An

á hội th m nh n d n:

1/. Ông Đặng Văn Chiểu

2/. Bà Võ Tuyết Kha

Th ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Bé – Thư ký Tòa án nhân dân huyện PL, t nh BL.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện PL tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Vũ Loan, Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện PL, t nh BL xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 221/2023/TLST- HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2023 về việc “Tranh chấp yêu cầu xin ly hôn và nuôi con chung”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 236/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 8 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số: 167/2023/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị HTHH, sinh năm 1985.

Địa ch : Ấp PTH, xã PL, huyện PL, t nh BL.

- Bị đơn: Anh TVT, sinh năm 1989.

Địa ch : Ấp PTH, xã PL, huyện PL, t nh BL.

(Chị H có đơn xin vắng mặt, anh T vắng mặt lần 2 không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 12/6/2023, bản tự khai và các biên bản lấy lời khai trong quá trình tố tụng, cũng như lời trình bày tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chị HTHH trình bày: Vào năm 2012, được sự thống nhất của hai bên gia đình có tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán ở địa phương cho chị và anh T nên vợ thành chồng, hôn nhân của chị và anh T là hoàn T tự nguyện, sau đó chị và anh T có đi đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã PL, huyện PL cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật.

Nguyên nhân mâu thuẫn để chị yêu cầu xin ly hôn với anh T là do tính tình giữa hai người không hòa hợp, cuộc sống vợ chồng ngày càng căng thẳng và không còn H phúc. Anh T thường xuyên chơi bời, không có chí thú làm ăn, không biết quan tâm đến cuộc sống gia đình, không quan tâm đến vợ con. Từ đó, vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau. Hiện tại chị và anh T đã sống ly thân với nhau nên nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, cuộc sống vợ chồng không còn H phúc nên nay chị yêu cầu xin ly hôn với anh TVT.

Về con chung trong thời gian chung sống vợ chồng chị và anh T chung sống với nhau có 01 người con chung tên TTND, sinh ngày 23/12/2014. Hiện tại cháu D đang sống cùng với chị nên nay ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng giáo dục cháu D và không yêu cầu anh T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị H xác định vợ chồng chung sống với nhau không có tài sản chung và nợ chung nên nay ly hôn chị không đặt ra yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Đối với bị đơn anh TVT: Mặc dù anh T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập để làm việc và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anh T vẫn không đến Tòa án để làm việc theo nội dung giấy triệu tập của Tòa án và cũng không có lý do chính đáng. Do đó, Tòa án sẽ tiến hành giải quyết vắng mặt đối với anh T theo đúng trình tự quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện PL, t nh BL phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn sơ thẩm như sau:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và của nguyên đơn chị HTHH là đúng theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, việc chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát, Thẩm phán thực hiện chưa đúng theo quy định tại Điều 220 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn anh TVT chấp hành chưa nghiêm theo giấy triệu tập của Tòa án.

Về nội dung vụ án: Chị H và anh T kết hôn với nhau vào năm 2012, hôn nhân của anh chị là hoàn T tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Nhưng trong thời gian chung sống vợ chồng anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn được, hiện tại anh chị đã sống ly thân với nhau mỗi người sống một nơi, không ai còn quan tâm chăm sóc cho ai nữa. Xét thấy hôn nhân giữa chị H và anh T nếu tiếp tục kéo dài thì cũng không còn H phúc, tình trạng hôn nhân đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân của anh chị không đạt được, nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị H được ly hôn với anh T là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về con chung: Từ khi chị H và anh T sống ly thân cho đến nay thì chị H là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu D. Anh T không tranh chấp quyền nuôi con với chị H nên đề nghị Hội đồng xét xử giao người con tên TTND, sinh ngày 23/12/2014 cho chị H được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp.

Về tài sản chung và nợ chung: Khi ly hôn chị H và anh T không đặt ra yêu cầu, nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí hôn nhân gia đình chị H phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị H có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết về việc tranh chấp ly hôn với anh TVT, anh T có địa ch cư trú tại huyện PL, t nh BL. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện PL, t nh BL.

Chị HTHH có đơn yêu cầu xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận và tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị H.

Anh TVT đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, nhưng anh T vẫn vắng mặt mà không có lý do chính đáng. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh T.

Về nội dung vụ án: Chị H và anh T kết hôn với nhau vào năm 2012, hôn nhân của anh chị là hoàn T tự nguyện, sau đó anh chị có đi đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã PL, huyện PL cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị H đối với anh T thì Hội đồng xét xử thấy rằng: Mục đích của hôn nhân là để tạo dựng một gia đình H phúc, vợ chồng phải biết yêu thương, quý trọng, chăm sóc lẫn nhau, giúp đỡ nhau cùng nhau tiến bộ. Nhưng trong thời gian chung sống vợ chồng chị H và anh T lại không làm được, mà còn phát sinh nhiều mẫu thuẫn không thể hàn gắn. Hiện tại chị H và anh T cũng đã sống ly thân với nhau khoảng 02 năm nay. Trong thời gian qua cả hai anh chị đều không có biện pháp cụ thể nào để thể hiện ý chí anh chị mong muốn hàn gắn lại với nhau, anh chị không còn quan tâm chăm sóc cho nhau. Như vậy chứng tỏ cuộc sống vợ chồng của chị H và anh T là không thể hàn gắn lại được, cuộc sống chung đã không còn H phúc, tình trạng hôn nhân của anh chị đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, nên căn cứ vào Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H đối với anh T là hoàn T phù hợp với quy định của pháp luật.

Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng chị H và anh T chung sống với nhau có 01 người con chung tên TTND, sinh ngày 23/12/2014. Từ lúc chị H và anh T sống ly thân với nhau đến nay thì chị H là người trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu D. Hiện tại chị H vẫn đảm bảo về điều kiện nuôi con và sự phát triển của con. Mặt khác, qua tiếp xúc với cháu D thì cháu có nguyện vọng được sống cùng với chị H khi chị H và anh T ly hôn với nhau. Do đó, để đảm bảo cho cháu D phát triển ổn định, tránh làm ảnh hưởng đến tâm lý của con nhỏ. Trên cơ sở cân nhắc các quyền lợi phát triển tốt nhất của con chưa thành niên nên căn cứ khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải giao người con chung tên TTND, sinh ngày 23/12/2014 cho chị H được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục là hoàn T phù hợp.

Chị HTHH không đặt ra yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Tạm thời miễn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh TVT.

Anh TVT có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở. Nếu sau này anh T chứng minh được việc chị H nuôi con, nhưng không lo lắng chăm sóc tốt cho cuộc sống của con thì anh có quyền nộp đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị HTHH và anh TVT không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Từ những nhận định nêu trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện PL, t nh BL về nội dung giải quyết vụ án là có căn cứ nên được chấp nhận.

Vì các lẽ nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1/. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị HTHH đối với anh TVT; Xử cho chị HTHH được ly hôn với anh TVT.

2/. Về con chung: Giao người con tên TTND, sinh ngày 23/12/2014 cho chị H được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục. Hiện tại cháu D đang sống cùng với chị H nên được giữ nguyên.

Chị HTHH không đặt ra yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Tạm thời miễn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh TVT.

Anh T có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở.

3/. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.

4/. Về án phí hôn nhân và gia đình: Chị HTHH phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0012764 ngày 19 tháng 6 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện PL, t nh BL.

5/. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án theo Điều 6, quyền và nghĩa vụ theo các Điều 7, 7a, 7b, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

6/. Án xử sơ thẩm công khai vắng mặt các đương sự, báo cho các đương sự biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ