vanban.org

Bản án 134/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban

thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Lê Thị T khởi kiện vụ án tranh chấp về ly hôn với ông Châu Khánh V"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 134/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 25-5-2023
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hùng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trịnh Văn Bé;

2. Bà Nguyễn Thị Ly.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ

Mới, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham

gia phiên tòa: không tham gia.

Trong ngày 25 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ

Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 121/2023/TLST-HNGĐ ngày 27

tháng 02 năm 2023 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra

xét xử số 213/2023/QĐXX-ST ngày 13 tháng 4 năm 2023, Quyết định hoãn

phiên tòa số 232/2023/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2023, giữa các

đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị T, sinh năm 1992; địa chỉ: số 176, tổ 10, ấp L,

xã L, huyện C, tỉnh An Giang; có mặt.

2. Bị đơn: Ông Châu Khánh V, sinh năm 1994; địa chỉ: ấp P, xã K, huyện

C, tỉnh An Giang; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Lê Thị T trình bày: bà T

và ông V do mai mối tìm hiểu nhau và đi đến hôn nhân, vợ chồng có đăng ký

kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K vào ngày 24/4/2018, thời gian chung sống

được 06 năm thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng thường xuyên xảy ra cự cãi,

không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm, trong cuộc sống đời sống hôn

nhân không đạt được, hiện vợ chồng không còn sống chung với nhau; về con chung: vợ chồng có 01 con chung tên là Châu Khánh M, sinh ngày 05/9/2018, hiện đang sống với bà T, khi ly hôn bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung: tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết và về nợ chung: không có.

Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Lê Thị T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện ly

hôn với ông V; yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Bị đơn ông Châu Khánh V không gửi ý kiến cho Tòa án, vắng mặt trong

suốt quá trình tố tụng tại Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Bà Lê Thị T khởi kiện vụ án tranh chấp về ly hôn với ông Châu Khánh

V. Ông V có nơi cư trú trên địa bàn huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.

Ông Châu Khánh V đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ

hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa bà Lê Thị T và ông Châu Khánh

V là hợp pháp vì ông bà có đăng ký kết hôn. Trong cuộc sống chung vợ chồng ông bà sống không hợp nhau, theo nguyên đơn trình bày là phát sinh mâu thuẫn, do vợ chồng thường xuyên xảy ra cự cãi, không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm, trong cuộc sống đời sống hôn nhân không đạt được, hiện vợ chồng không còn sống chung với nhau. Hội đồng xét xử thấy rằng bà T xin ky hôn với ông V, bà T, ông V không còn sống chung đến nay là một khoảng thời gian dài, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T.

Về quan hệ con chung: Bà Lê Thị T xác định vợ chồng có 01 con

chung tên là Châu Khánh M, sinh ngày 05/9/2018, khi ly hôn bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi con. Xét thấy, con chung đang được bà T chăm sóc, nuôi dưỡng, phát triển ổn định. Do đó, để đảm bảo ổn định cuộc sống cho con chung, giúp Cháu M phát triển tốt về thể chất, tinh thần, Hội đồng xét xử giao Cháu M cho bà T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng theo Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.Bà T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xét đến.

Về quan hệ tài sản chung: Bà T khởi kiện xác định không yêu cầu Tòa

án giải quyết nên không xét đến.

Về nợ chung: Không có nên không xét đến.

Về án phí: Bà Lê Thị T phải chịu án phí theo quy định của Nghị quyết

số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy

định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa

án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào,

- Các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban

thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử

dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị T.

1) Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Lê Thị T ly hôn với ông Châu Khánh V.

Giấy chứng nhận kết hôn số 99 ngày 24/4/2018 do Ủy ban nhân dân xã Kiến

Thành, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp, không còn giá trị pháp lý.

2) Về quan hệ con chung: Bà Lê Thị T được tiếp tục nuôi con chung tên là

Châu Khánh M, sinh ngày 05/9/2018. Ông Châu Khánh V không phải cấp dưỡng

nuôi con.

Bà Lê Thị T cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở

ông Châu Khánh V trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có

thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc

cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

3) Về quan hệ tài sản chung: Bà Lê Thị T khởi kiện xác định không yêu

cầu Tòa án giải quyết nên không xét đến.

4) Về nợ chung: Không có nên không xét đến.

5) Về án phí: Bà Lê Thị T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là

300.000đồng (Bằng chữ: Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào tiền tạm nộp

án phí đã nộp 300.000đồng (Bằng chữ: Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số

0013307 ngày 23/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh

An Giang. Bà Lê Thị T đã nộp đủ.

6) Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự

có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc

thẩm. Đương sự vắng mặt thì thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án

hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ