- Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LONG AN Bản án số: 134/2022/HS-ST Ngày: 11 - 11 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Bình An.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thanh Hoàng
Bà Lê Thị Xuân Đào
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Như Ý - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thành Dương- Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 11 năm 2022, Tòa án nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 127/2022/TLST-HS ngày 20 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 132/2022/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Hữu T; sinh ngày 02 tháng 02 năm 1988, nơi sinh; Thành phố H; giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú: số 66/7B N, phường 1, Quận G, Thành phố H. Chỗ ở: ấp M1, xã m, huyện Đ, tỉnh L. Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D năm sinh 1957 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1953, bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị T, sinh năm 1990 và 02 người con, sinh năm 2007 và sinh năm 2010. Tiền án; Tiền sự: không.
Nguyễn Hữu T bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13 tháng 7 năm 2022, tại nhà tạm giữ Công an huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, cho đến nay (bị cáo có mặt).
- Người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng: anh Trịnh Văn S; anh Mai Văn H và Nguyễn Thanh T (tất cả người làm chứng vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ, ngày 10/7/2022 Nguyễn Hữu T, đi xe buýt từ nhà trọ không biển hiệu thuộc ấp M1, xã M, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đến khu vực phường 7, Quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh gặp một nam thanh niên không rõ nhân thân lai lịch mua 200.000 đồng chất ma túy (dạng đá). Sau khi mua xong T bỏ túi nylon chứa chất ma túy vào túi quần bên phải và đi xe buýt về nhà trọ không biển hiệu thuộc ấp M1, xã M, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An sử dụng một mình được 02 lần. Đến khoảng 09 giờ ngày 13/7/2022 khi T đang đứng trước nhà trọ không biển hiệu thuộc ấp M1, xã Mỹ Hạnh Nam, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện trong túi quần bên phải của T có một túi nylon rãnh kép màu đỏ chứa chất ma túy (dạng đá). Lực lượng Công an tiến hành tạm giữ T cùng tang vật.
Tại Kết luận giám định số 643/2022/KLHS ngày 20/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Long An kết Luận :
- “Tinh thể màu trắng đựng trong 01(một) túi nylon có rãnh khép, được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 3,6726 gam, loại: Methamphetamine.
Hoàn lại đối tượng giám định: Mẫu vật sau giám định có khối lượng: 3,3075 gam, được niêm phong số 643 ngày 20/7/2022”.
Tại bản cáo trạng số 126/CT-VKSĐH ngày 19 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An truy tố bị cáo Nguyễn Hữu T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Hữu T hoàn toàn nhìn nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa truy tố, không đưa ra chứng cứ nào minh oan chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên sau khi phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm xã hội của hành vi vi phạm pháp luật mà bị cáo gây ra, đồng thời căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T mức hình phạt từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ tạm giam ngày 13 tháng 7 năm 2022.
Về xử lý tang vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị:
Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 3,3075 gam, là ma túy, loại: Methamphetamine, được niêm phong số 643.
Đối với người thanh niên có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Hữu T. Do không xác định được nhân thân, lai lịch, chỉ có lời khai duy nhất của T nên không có căn cứ xử lý. Đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đức Hòa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, vắng mặt người làm chứng nhưng những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 và Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
. Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Hữu T trước Tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang vào lúc 09 giờ 00 phút ngày 13 tháng 7 năm 2022, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường, phù hợp với lời khai người làm chứng cùng với kết luận giám định số 643/2022/KLGĐ ngày 20 tháng 7 năm 2022 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Long An và phù hợp với nội dung bản cáo trạng. Thấy rằng, khoảng 09 giờ, ngày 13/7/2022, tại nhà trọ không biển hiệu thuộc ấp M1, xã M, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, bị cáo Nguyễn Hữu T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng là 3,6726 gam ma túy, loại Methamphetamine, với mục đích để sử dụng thì bị lực lượng Công an huyện Đức Hòa phát hiện, bắt quả tang.
Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố bị cáo Nguyễn Hữu T với tội danh và điều luật trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
. Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, hành vi này đã xâm hại trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây thiệt hại lớn về kinh tế, gây tổn hại sức khỏe con người, làm suy thoái nòi giống, gây mất trật tự xã hội.
Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hậu quả nghiêm trọng của ma túy đối với xã hội và bản thân bị cáo, bị cáo biết rõ ma túy là một trong những nguyên nhân của nhiều tội phạm khác, nhiều căn bệnh hiểm nghèo, bị nghiêm cấm vận chuyển, mua bán, tàng trữ dưới bất kỳ hình thức nào nhưng bị cáo vẫn bất chấp pháp luật thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo cần được xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự, do đó cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
. Xét về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Hữu T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Nguyễn Hữu T không có tiền án, tiền sự trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên khi áp dụng hình phạt cho bị cáo có xem xét giảm nhẹ một phần.
Từ phân tích [3] và [4], xét theo lời đề nghị của Kiểm sát viên về áp dụng hình phạt tù có thời hạn và mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
. Về xử lý tang vật chứng: Căn cứ vào Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Đối với 3,3075 gam, là ma túy, loại: Methamphetamine, được niêm phong số 643. Đây là tang vật của vụ án, nên tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
Đối với người thanh niên có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Hữu T. Do không xác định được nhân thân, lai lịch, chỉ có lời khai duy nhất của T nên không có căn cứ xử lý. Nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hữu T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hữu T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/7/2022.
Áp dụng khoản 1 và khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự : Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Hữu T 45 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 11 tháng 11 năm 2022), để đảm bảo thi hành án.
Về xử lý tang vật chứng: Căn cứ vào Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 3,3075 gam, là ma túy, loại: Methamphetamine, được niêm phong số 643.
Tang vật trên do Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 14 -19/10/2022 ngày 19 tháng 10 năm 2022.
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Hữu T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo được quyền kháng cáo để xin xét xử phúc thẩm./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An - VKSND tỉnh Long An; - VKSND huyện Đức Hòa; - Sở tư pháp thành phố Hồ Chí Minh - Công an huyện Đức Hòa; - Nhà tạm giữ Công an huyện Đức Hòa. - Chi cục THA dân sự huyện Đức Hòa; - Người tham gia tố tụng; bị cáo, người liên quan đến vụ án. - Lưu hồ sơ. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Thanh Hoàng – Nguyễn Văn Ghên | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đã ký Đỗ Bình An THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Kim Thảnh |