vanban.org

Bản án 134/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phan Thanh T - Lê Văn K"
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
T
N NH N N
TH NH H TH
M T
T NH NH
N

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 134/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 21-12-2022
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

N ỚC C N H XÃ H I CH N HĨ VIỆT NAM

T

N NH N N TH NH H TH

M T, T NH NH

N

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trường

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Minh Trí

Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Kiều Diễm – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Lưu Kim Hằng – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 343/2022/TLST- HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 105/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 11 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Phan Thanh T, sinh năm 1981; địa chỉ: Số 171/4/14 đường N, Tổ 83, Khu phố 6, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Ông Lê Văn K, sinh năm 1977; địa chỉ: Số 171/4/14 đường N, Tổ 83, Khu phố 6, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

N I N VỤ N:

Nguyên đơn – bà Phan Thanh T trình bày: Bà T và ông K là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, Quận H, Thành phố Đ là hôn nhân tự nguyện. Quá trình chung sống, bà T và ông K có 01 người con chung tên Lê Duy K, sinh ngày 19/9/2016. Sau khi kết hôn, bà T và ông K sống hạnh phúc, một thời gian sau thì phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau; vào tháng 02/2022, bà T đã nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn nhưng đã rút đơn để vợ chồng hàn gắn nhưng không có kết quả.

Nay, bà T thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể tiếp tục chung sống, nên khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông K; về con chung: Bà T yêu cầu được nuôi cháu K và không yêu cầu ông K phải cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung, nợ chung: Không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn – ông Lê Văn K đã được Tòa án tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; triệu tập tham gia hòa giải, tham gia phiên họp và tham gia phiên tòa hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt, không tham gia tố tụng và không gửi văn bản giải trình về vụ kiện cho Tòa án.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý đến khi xét xử. Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định pháp luật; bị đơn không chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Bà T và ông K chung sống với nhau có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp; bà T và ông K phát sinh mâu thuẫn từ năm 2019 đến nay, nguyên nhân là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, không còn quan tâm đến nhau; tháng 02/2022 bà T đã nộp đơn ly hôn, nhưng đã rút đơn để vợ chồng hàn gắn nhưng không có kết quả; do mâu thuẫn vợ chồng bà T và ông K đã trầm trọng, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà T; về con chung, do ông K không đến Tòa án làm việc và không có ý kiến về việc nuôi con; cháu K hiện đang còn nhỏ nên đề nghị giao cháu K cho bà T nuôi dưỡng, chăm sóc. Về tài sản chung, nợ chung, cấp dưỡng nuôi con: Do nguyên đơn không có yêu cầu nên không đề nghị giải quyết.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên;

NHẬN ĐỊNH C T

N:

[1] Về tố tụng: Bị đơn ông Lê Văn K hiện đang cư trú tại: Số 171/4/14 đường N, Tổ 83, Khu phố 6, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương; căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một; ông K đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhiều lần, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do; bà Phan Thanh T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung: Bà T và ông K chung sống với nhau từ năm 2006, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, Quận H, Thành phố Đà Nẵng là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình. Quá trình chung sống, do hai bên bất đồng về quan điểm sống nên dẫn đến mâu thuẫn, mất lòng tin với nhau; vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, tình cảm vợ chồng không còn; tháng 02/2022, bà T nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án thành phố Thủ Dầu Một giải quyết ly hôn với ông K, nhưng đã rút đơn lại để vợ chồng hàn gắn nhưng không có kết quả.

[3] Do mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà T yêu cầu được ly hôn với ông K là đúng quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T.

[4] Về con chung: Bà T và ông K có 01 người con chung tên Lê Duy K, sinh ngày 19/9/2016; bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung; quá trình giải quyết vụ án ông K không đến Tòa án làm việc, không có kiến về việc nuôi con. Xét thấy, cháu K hiện nay còn nhỏ nên việc chăm sóc, giáo dục của người mẹ sẽ tốt hơn cho sự phát triển bình thường của cháu K, nên cần giao cháu K cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung; do bà T không yêu cầu ông K phải cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Do các bên đương sự không có yêu cầu tranh chấp nên không giải quyết.

[6] Từ những phân tích, nhận định nêu trên, xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên được chấp nhận.

[7] kiến của Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn và giao con chung cho bà T nuôi dưỡng là phù hợp với pháp luật.

[8] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo luật định.

Vì các lẽ trên,

Q YẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; khoản 1 Điều 238; Điều 266 và Điều 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 9; Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Thanh T đối với bị đơn ông Lê Văn K về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”;

Bà Phan Thanh T được ly hôn ông Lê Văn K.

Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 107, quyển số I/2006 ngày 16/11/2006 do Ủy ban nhân dân phường P, Quận H, Thành phố Đà Nẵng cấp cho bà Phan Thanh T và ông Lê Văn K không còn giá trị pháp lý.

2. Về con chung: Giao cháu Lê Duy K, sinh ngày 19/9/2016 cho bà Phan Thanh T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Ông Lê Văn K không phải cấp dưỡng nuôi con.

Ông Lê Văn K được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở ông K thực hiện quyền này; trường hợp, ông K lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của bà T thì bà T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ông K.

Sau này, vì lợi ích hợp pháp của cháu Lê Duy K, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng khi có yêu cầu.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không có yêu cầu tranh chấp nên không giải quyết.

4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Phan Thanh T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2021/0000157 ngày 21 tháng 9 năm 2022 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ