vanban.org

Bản án 134/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn chị Song Mỹ L.

Cho chị Song Mỹ L được ly hôn với anh Trịnh Bá Ph. Về con chung: Giao con chung tên cháu Trịnh Bá Hoàng V, sinh ngày 01/4/2017 cho chị Song Mỹ L trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Giao con chung tên Trịnh Bá Hoàng N, sinh ngày 18/6/2015 cho anh Trịnh Bá Ph trực tiếp nuôi dư… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Song Mỹ Liên- Trịnh Bá Phong"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn chị Song Mỹ L.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XL
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 134/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 29-8-2022
“V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XL, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Văn Tiến.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Xuân Tùng.

2. Bà Cao Thị Mận.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Văn Thiêm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện XL, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện XL, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diến - Kiểm sát viên

Ngày 29 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện XL xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 43/2022/TLST- HNGĐ 14 tháng 01 năm 2022 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2022 và Quyết định Hoãn phiên tòa số 88/2022/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Song Mỹ L , sinh năm 1986.

Địa chỉ: Số nhà 34 tổ 5, Khu phố X, phường P, thành phố LK, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Anh Trịnh Bá Ph, sinh năm 1984.

Địa chỉ: ấp 6, xã X, huyện XL, tỉnh Đồng Nai.

(Chị L, anh P vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Song Mỹ L trình bày: Chị và anh Trịnh Bá Ph tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn năm 2009 tại Ủy ban nhân dân xã Xuân Bắc, huyện XL, tỉnh Đồng Nai. Vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã. Anh chị không còn chung sống với nhau từ tháng 5/2019 đến nay. Từ đó, vợ chồng bỏ mặc nhau và không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay mâu thuẫn đã trầm trọng, không thể hàn gắn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Trịnh Bá Ph.

Về con chung: Có 02 con chung tên Trịnh Bá Hoàng N, sinh ngày 18/6/2015 và Trịnh Bá Hoàng V, sinh ngày 01/4/2017. Sau khi ly hôn, chị yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Trịnh Bá Hoàng V đến đủ 18 tuổi và có khả năng lao động, sinh ngày 01/4/2017. Giao cháu Trịnh Bá Hoàng N, sinh ngày 18/6/2015 cho anh P nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi và có khả năng lao động, không ai cấp dưỡng nuôi con cho ai.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

* Bị đơn anh Trịnh Bá Ph đã được triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên không có lời khai.

* Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện XL tham gia phiên tòa phát biểu: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc thụ lý vụ án, xác định quan hệ pháp luật, tư cách đương sự, thu thập chứng cứ, cấp tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự và thời gian gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu trước khi xét xử. Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định tại Điều 51 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chị Song Mỹ L đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự về việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ. Bị đơn anh Trịnh Bá Ph đã không chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị căn cứ Điều 9 và Điều 11 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Song Mỹ L. Cho chị Song Mỹ L được ly hôn với anh Trịnh Bá Ph. Về con chung: giao cháu Trịnh Bá Hoàng V, sinh ngày 01/4/2017 cho chị Song Mỹ L nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Giao cháu Trịnh Bá Hoàng N, sinh ngày 18/6/2015 cho anh P nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L tạm thời không yêu cầu anh P về cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét giải quyết, anh P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ anh nhưng vắng mặt không có lý do, không có lời khai nên không giải quyết. Tài sản chung, nợ chung: Chị L khai không có, anh P không có lời khai nên không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Song Mỹ L có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Trịnh Bá Ph, yêu cầu nuôi con chung, anh Trịnh Bá Ph có nơi cư trú tại ấp 8, xã Xuân Bắc, huyện XL, tỉnh Đồng Na nên quan hệ pháp luật là: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện XL, tỉnh Đồng Nai theo quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Chị Song Mỹ L có đơn xin vắng mặt, anh Trịnh Bá Ph vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị L, anh P là phù hợp.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Song Mỹ L và anh Trịnh Bá Ph tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn năm 2009 tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện XL, tỉnh Đồng Nai nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp theo quy định của pháp luật.

Chị Song Mỹ L yêu cầu được ly hôn với anh Trịnh Bá Ph do cuộc sống chung không hạnh phúc, có nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã. Theo lời trình bày của bà Nguyễn Thị Y (là mẹ ruột anh P) thì vợ chồng anh P, chị L có những mâu thuẫn với nhau, vợ chồng không còn chung sống với nhau từ năm 2019 đến nay. Anh P đã được triệu tập hợp lệ đến làm việc nhiều lần nhưng anh P vắng mặt không có lý do, chứng tỏ anh P bỏ mặc, không có thiện chí hòa giải hàn gắn tình cảm vợ chồng. Như vậy, có thể xác định mẫu thuẫn giữa anh P, chị L đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị L, anh P đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình, làm cho mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về con chung: Chị Song Mỹ L yêu cầu được nuôi dưỡng con chung tên Trịnh Bá Hoàng V, sinh ngày 01/4/2017, giao con chung tên Trịnh Bá Hoàng N, sinh ngày 18/6/2015 cho anh P nuôi dưỡng. Xét thấy, anh P chị L có nghề nghiệp, thu nhập và đủ điều kiện để để nuôi con chung, cháu V đang do chị L trực tiếp nuôi dưỡng, cháu N đang do anh P trực tiếp nuôi dưỡng, cháu N có nguyện vọng được ở với anh P nên giao cháu V cho chị L nuôi dưỡng, giao cháu N cho anh P nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về việc cấp dưỡng nuôi con: chị Song Mỹ L không yêu cầu anh Trịnh Bá Ph cấp dưỡng nuôi con, anh Trịnh Bá Ph không có lời khai nên không giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Song Mỹ L khai không có tài sản chung, không yêu cầu giải quyết, anh Trịnh Bá Ph không có lời khai nên không giải quyết.

Về nợ chung: Chị Song Mỹ L khai không có nợ chung, không yêu cầu giải quyết, anh Trịnh Bá Ph không có lời khai nên không giải quyết.

Về án phí: Chị Song Mỹ L phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, Điều 35; Điều 39, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 9 và Điều 11 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn chị Song Mỹ L.

1. Cho chị Song Mỹ L được ly hôn với anh Trịnh Bá Ph.

2. Về con chung: Giao con chung tên cháu Trịnh Bá Hoàng V, sinh ngày 01/4/2017 cho chị Song Mỹ L trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Giao con chung tên Trịnh Bá Hoàng N, sinh ngày 18/6/2015 cho anh Trịnh Bá Ph trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Về cấp dưỡng nuôi con: Không giải quyết.

Anh Trịnh Bá Ph, chị Song Mỹ L chị được quyền thăm nom, chăm sóc con chung nhưng không gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con của người trực tiếp nuôi con .

Khi cần thiết, anh Trịnh Bá Ph và chị Song Mỹ L được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ: Không giải quyết.

4. Về án phí: Chị Song Mỹ L phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị L đã nộp theo biên lai thu ố 0006100 ngày 11/01/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện XL, tỉnh Đồng Nai được chuyển thành tiền án phí. Chị Song Mỹ L đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Song Mỹ L và anh Trịnh Bá Ph được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ