vanban.org

Bản án 134/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Kim A được ly hôn với anh Nguyễn Văn L. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 224, ngày 258/2008 do Ủy ban nhân dân xã C (huyện C, An Giang) cấp không còn giá trị pháp lý. Về quan hệ con cái, cấp dưỡng: Công nhận 02 cháu tên Nguyễn Thị Như Q, si… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Kim A ly hôn với anh Nguyễn Văn L"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 134/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 23-9-2022
V/v “Tranh chấp về ly hôn; nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Mỹ Linh;

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phan Hữu Trí;

2. Bà Mai Hồng Thắm

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Sơn - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Thu Hồng Em - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 346/2022/TLST-HNGĐ, ngày 08 tháng 7 năm 2022 về việc: "Tranh chấp về ly hôn, nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 183/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim A, sinh năm 1985 (có mặt);

Cư trú: Ấp C, xã C, huyện C, An Giang.

Số điện thoại: xxxx.xxx.xxx

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1981 (vắng mặt);

Cư trú: Ấp C, xã C, huyện C, An Giang.

Số điện thoại: xxxx.xxx.xxx - xxxx.xxx.xxx

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim A trình bày:

Do tự tìm hiểu và quên biết nhau, nên chị và anh Nguyễn Văn L chung sống với nhau vào năm 2006, hôn nhân xây dựng trên cơ sở tự nguyện, không tổ chức lễ cưới, nhưng sau đó có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện C ngày 25/8/2008. Sau khi cưới chị về làm dâu bên chồng được một năm, vợ chồng về bên nhà mẹ ruột tại ấp C, C để sống, anh chị chung sống hạnh phúc được một thời gian gần 06 năm, đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, có nhiều bất đồng về quan điểm sống, nguyên nhân do chồng không lo làm ăn, anh không lo cho gia đình, anh L có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác, về nhà đánh đập vợ con, chị đã khuyên ngăn nhiều lần nhưng anh L vẫn không thay đổi, vợ chồng không quan tâm đến nhau. Sau đó anh L bỏ về cha mẹ ruột anh L sinh sống từ năm 2018, chị không còn tình cảm với anh L, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc và ly thân từ đó đến năm nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn L.

Quá trình chung sống chị và anh L có 02 con chung tên Nguyễn Thị Như Q, sinh ngày 28/01/2007 và Nguyễn Thị Kim N, sinh ngày 26/5/2008; Hiện hai cháu đang sống với chị; sau khi ly hôn, chị Kim A yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 cháu Nguyễn Thị Như Q và Nguyễn Thị Kim N, không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

* Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn L: Tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng đến gia đình nhằm tạo điều kiện hòa giải đoàn tụ và hàn gắn quan hệ vợ chồng giữa hai người nhưng anh L đều vắng mặt không lý do. Tòa án tiến hành xác minh nơi cư trú của anh L xác định anh Nguyễn Văn L có nơi cư trú tại ấp C, xã C, huyện C, tỉnh An Giang; Hiện tại anh Nguyễn Văn L đi làm thường xuyên, ít có mặt tại nhà và không gửi văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim A.

Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim A xác định vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với anh L; Về con chung yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 cháu Như Q và Kim N, không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Anh L: Vắng mặt không có lý do mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ nhiều lần các văn bản tố tụng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử, các đương sự cũng đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng.

Về nội dung vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim A, giải quyết cho chị Nguyễn Thị Kim A được ly hôn với anh L; về con chung: Tiếp tục giao 02 cháu Như Q và Kim N cho chị Nguyễn Thị Kim A tiếp tục nuôi dưỡng, anh L không phải cấp dưỡng nuôi con, do chị Nguyễn Thị Kim A không yêu cầu; về tài sản chung và nợ chung không có nên không đặt ra xem xét. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Kim A phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị Kim A và anh L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 25 tháng 8 năm 2008 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện C nên được pháp luật công nhận là vợ chồng theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Nay vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nên chị Nguyễn Thị Kim A yêu cầu ly hôn với anh L. Anh L có hộ khẩu thường trú ở ấp C, xã C, huyện C, tỉnh An Giang. Căn cứ theo quy định khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

- Về sự có mặt của đương sự: Anh Nguyễn Văn L là bị đơn trong vụ án, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh vẫn vắng mặt không lý do chính đáng, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan là từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình được pháp luật bảo vệ nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh L theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim A xác nhận cuộc sống hôn nhân thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc được hơn 09 năm, đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống chung không phù hợp nên chị yêu cầu được ly hôn với anh L.

Xét thấy, cuộc sống hôn nhân vợ chồng là nhằm xây dựng một gia đình thật sự hạnh phúc, vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, tin tưởng và quan tâm chăm sóc lẫn nhau nhưng quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Kim A và anh L đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, chị Nguyễn Thị Kim A xác định anh L đang có quan hệ bất chính với người phụ nữa khác, còn đánh đập chị nên tình cảm vợ chồng không còn tồn tại. Tòa án tiến hành lấy lời khai của anh L theo quy định, nhưng không lấy được lời khai do anh L vắng mặt tại nhà (BL 36), anh L thường xuyên vắng mặt tại nhà, quá trình giải quyết anh L đều vắng mặt tại các phiên hòa giải. Mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng nhiều lần nhưng anh L vẫn không có văn bản thể hiện ý kiến hay có nguyện vọng là muốn duy trì quan hệ hôn nhân với chị Nguyễn Thị Kim A. Do đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở xác định tình trạng hôn nhân của chị Nguyễn Thị Kim A và anh L đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân giữa hai người không đạt được, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình nên chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Kim A là được ly hôn với anh Nguyễn Văn L.

Về quan hệ con cái, cấp dưỡng: Chị Nguyễn Thị Kim A thừa nhận 02 cháu tên Nguyễn Thị Như Q, sinh ngày 28/01/2007 và Nguyễn Thị Kim N, sinh ngày 26/5/2008 là con chung của chị và anh Nguyễn Văn L, mặt khác giấy khai sinh của các cháu cũng đã thể hiện rõ điều này, do đó cần công nhận 02 cháu Kim N và Như Q là con chung của chị Nguyễn Thị Kim A và anh L, hai cháu hiện đang sống với chị Nguyễn Thị Kim A. Sau khi ly hôn, chị Nguyễn Thị Kim A yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi anh, chị không còn sống chung nữa thì hai cháu Kim N và Như Q sống với chị Nguyễn Thị Kim A, đồng thời Tòa án đã tiến hành lấy lời khai đối với hai cháu thì các cháu đều có nguyện vọng được sống với mẹ (BL số 27- 28), mặt khác hai cháu là con gái nên cần có sự chăm sóc của người mẹ sẽ phù hợp hơn. Do đó, để ổn định tâm lý và đảm bảo phát triển cuộc sống cho các cháu nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Kim A là được tiếp tục nuôi dưỡng hai cháu Kim N và Như Q.

Về tiền cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Kim A không yêu cầu anh Nguyễn Văn L cấp dưỡng nuôi con, đây là sự tự nguyện và phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, tuy nhiên khi điều kiện kinh tế và điều kiện nuôi con có thay đổi thì các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con, cấp dưỡng trong một vụ kiện khác.

Anh Nguyễn Văn L có quyền tới lui, thăm nom chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định pháp luật.

Về quan hệ tài sản, nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí sơ thẩm: Do chị Nguyễn Thị Kim A có yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn L nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điều 9, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân gia đình 2014;

- Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 177, khoản 2 Điều 227, 228, Điều 271, Điều 273, 278, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

- Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Kim A được ly hôn với anh Nguyễn Văn L. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 224, ngày 258/2008 do Ủy ban nhân dân xã C (huyện C, An Giang) cấp không còn giá trị pháp lý.

2. Về quan hệ con cái, cấp dưỡng: Công nhận 02 cháu tên Nguyễn Thị Như Q, sinh ngày 28/01/2007 và Nguyễn Thị Kim N, sinh ngày 26/5/2008 là con chung của chị Nguyễn Thị Kim A và anh Nguyễn Văn L;

+ Tiếp tục giao cháu Nguyễn Thị Như Q và Nguyễn Thị Kim N cho chị Nguyễn Thị Kim A được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến tuổi trưởng thành (hiện 02 cháu Như Q và Kim N đang sống chung với chị Nguyễn Thị Kim A); Anh Nguyễn Văn L không phải cấp dưỡng nuôi con cho chị Nguyễn Thị Kim A, do chị Nguyễn Thị Kim A không yêu cầu;

+ Chị Nguyễn Thị Kim A cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở anh Nguyễn Văn L trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung.

+ Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

3. Về quan hệ tài sản, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

4. Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Kim A phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân sơ thẩm, đã nộp tạm ứng án phí 300.000đ theo biên lai thu số 0002624 ngày 07/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang, được khấu trừ nên chị Nguyễn Thị Kim A đã nộp xong.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Kim A được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh Nguyễn Văn L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai hợp lệ theo quy định của pháp luật để yêu cầu xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ