- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn H tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
- Tòa quyết gì? luật hình sự; Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 134/2021/HSST Ngày: 18/11/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Đỗ Văn Nghiêm
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Lan
Ông Nguyễn Xuân Lưu
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Oanh – Thư ký Tòa án
nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội: Ông Lê Anh
Tuấn - Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.
Ngày 18 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành
phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 140/2021/TLST-
HS ngày 03 tháng 11 năm 2021, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
136/2021/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:
Lê Văn H, sinh năm 1982; HKTT và nơi ở: Thôn T, xã L, huyện K, tỉnh H; dân
tộc: Kinh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; con ông Lê Khánh H;
con bà Phan Thị M; có vợ là: Lê Thị N (đã ly hôn); có 02 con: Con lớn sinh năm 2010;
con nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị giữ, tạm giam từ ngày
04/7/2021 đến ngày 09/7/2021 – Bị cáo tại ngoại có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên sáng ngày 02/7/2021, Lê Văn H sử dụng điện
thoại nhãn hiệu OPPO của mình đăng nhập vào tài khoản mạng xã hội Facebook với tài
khoản tên “H L” để nói chuyện với một người không quen biết, qua nói chuyện H biết
người này có bán ma túy đá và hỏi mua 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) ma túy.
Đến khoảng 17 giờ 00 phút cùng ngày, H đến khu vực đường gom Đ phía trước Tòa nhà
C thuộc thôn A, xã T, huyện B, thành phố Hà Nội để mua bán ma túy. Tại đây, H mua
01 gói ma túy đá với giá 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) của một người đàn ông
(H không quen biết, không nhớ đặc điểm hình dạng). Sau đó, H đi về nhà trọ tại thôn X,
xã T, huyện B thành phố Hà Nội sử dụng ít, phần ma túy còn lại, H cất giấu để tiếp tục sử
dụng.
Sáng ngày 04/7/2021, cũng qua mạng xã hội Facebook, H có quen và nói chuyện
với một nam thanh niên (không quen biết). Qua nói chuyện, H và nam thanh niên này rủ nhau cùng sử dụng ma túy đá. Người này hẹn H xuống khu vực cổng chào B thuộc xã A, huyện H, thành phố Hà Nội để cùng đi sử dụng ma túy. H mang theo số ma túy đá chưa sử dụng để trong ví da rồi bắt xe Grab đến khu vực cổng chào B. Đến khoảng 11 giờ 50’ cùng ngày, H đang chờ nam thanh niên tại khu vực phía trước Tòa G, thuộc xã A, huyện H, thành phố Hà Nội thì bị Công an kiểm tra, bắt giữ: 01 (một) túi nilon màu trắng, kích thước khoảng 3x4cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng, đã qua sử dụng bị nứt vỡ góc và màn hình, số IMEI1: 863632039843632, IMEI2: 86363203943624; gắn 02 thẻ sim số thuê bao: 0963xxx.xxx, 0372xxx.xxx; trên thẻ sim có số seri 8984048000319158904, 8984048000031812585.
Tại Bản Kết luận giám định số: 5521/KLGĐ-PC09 ngày 11/7/2021 của Phòng kỹ
thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội xác định gói“Tinh thể màu trắng bên trong 01 (một) túi nilon là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,305 gam.”
Bản cáo trạng số 138/CT-VKSHĐ ngày 28 tháng 10 năm 2021, của Viện kiểm sát
nhân dân huyện Hoài Đức truy tố Lê Văn H về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa đã xem xét toàn diện các chứng cứ có trong hồ sơ, thông qua việc xét hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa đã luận tội và kết luận: khoảng 11giờ 50’ ngày 04/07/2021, tại khu vực phía trước Tòa G, thuộc xã A, huyện H, thành phố Hà Nội, bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép 0,305gam Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng là có đủ dấu hiệu cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình; bản thân bị cáo bị bệnh HIV/AIDS ; bố bị cáo là người có công được thưởng huân chương hạng 3. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt Lê Văn H mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Tịch thu tiêu hủy vật chứng là ma túy thu giữ của bị cáo. Tịch thu sung công chiếc điện thoại bị cáo dùng vào việc phạm tội; bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm; không phạt bổ sung đối với bị cáo, vì bị cáo là con nghiện không có việc làm ổn định; bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo luật định.
Lời nói sau cùng: Bị cáo biết hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp
luật. Đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội sửa chữa, tái hòa nhận cộng đồng làm người có ích cho gia đình và cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an
huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc
khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã
thực hiện đều hợp pháp, Hội đồng xét xử nhận định về hành vi phạm tội của bị cáo như
sau:
Khoảng 11 giờ 50 phút ngày 04/07/2021, tại khu vực phía trước Tòa G, thuộc xã A,
huyện H, thành phố Hà Nội, bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép 0,305 gam
Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng là có đủ dấu hiệu cấu thành tội “Tàng trữ
trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do vậy, cần có
mức án nghiêm khắc đối với các bị cáo. Tuy nhiên, khi xem xét đến lượng hình, Hội đồng
xét xử đánh giá toàn bộ nội dung vụ án, xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi
người phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của vụ án,
thấy: [2]
Tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội. Vì,
ma túy là chất gây nguy hại cho con người và cho xã hội, nó làm tha hóa đạo đức, lối
sống, làm mất lý trí con người, làm tan vỡ nhiều hạnh phúc gia đình; đồng thời ma túy còn
là mầm mống cho các loại tội phạm khác, như tội trộm cắp, tội cướp, cướp giật... Do vậy,
nhà nước thống nhất quản lý và có chính sách tuyên truyền rộng khắp trên mọi thông tin
đại chúng để mọi người phòng tránh; vì lợi ích cá nhân mà bị cáo đã bất chấp tác hại của
ma túy đối với con người và xã hội, bị cáo đi vào con đường phạm tội. Trong khi, bị cáo
có đầy đủ năng lực nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình là bất
hợp pháp và vi phạm pháp luật nghiêm trọng; đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc
quyền quản lý chất ma túy của nhà nước được luật hình sự bảo vệ [3].
Nhân thân, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nhưng không
chịu tu dưỡng bản thân để trở thành người có ích cho gia đình và xã hội; tại cơ quan điều
tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình để các cơ quan
tiến hành tố tụng nhanh kết thúc vụ án; bị cáo bị bệnh HIV/AIDS ; bố bị cáo là người có
công được thưởng huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng 3. Đây được coi là tình tiết giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét
giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo [4].
Đối tượng bán ma túy; Người thanh niên hẹn bị cáo đến khu vực cổng chào B để
cùng sử dụng ma túy, bị cáo H khai không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều
tra không có căn cứ để xác minh, làm rõ [5].
Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) túi nilon màu trắng, kích thước khoảng
3x4cm có chữ ký của bị cáo và giám định viên, bên trong có ma túy.
+ Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO
màu trắng, đã qua sử dụng bị nứt vỡ góc và màn hình, số IMEI1: 863632039843632,
IMEI2: 86363203943624; gắn 02 thẻ sim, trên thẻ sim có số seri 8984048000319158904,
8984048000031812585 [6].
Xét bị cáo không có việc làm ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là hình phạt
tiền cho bị cáo. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật; bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm [7].
Từ căn cứ trên, Hội đồng xét xử:
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ
luật hình sự; Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Xử phạt: Lê Văn H 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành
án, được khấu trừ thời giam tạm giữ từ 04/7/2021 đến ngày 09/7/2021; bị cáo còn phải chấp hành bản án 14 (mười bốn) tháng 24 (hai bốn) ngày.
3. Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều
332, Điều 333 và Điều 336 Bộ luật tố tụng hình sự; áp dụng Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án
Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) túi nilon màu trắng, kích thước khoảng
3x4cm có chữ ký của bị cáo và giám định viên, bên trong có ma túy. Tịch thu sung công 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng, đã qua sử dụng bị nứt vỡ góc và màn hình, số IMEI1: 863632039843632, IMEI2: 86363203943624; gắn 02 thẻ sim, trên thẻ sim có số seri 8984048000319158904, 8984048000031812585. Vật chứng hiện ở chi cục thi hành án dân sự huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội theo biên bản bàn giao ngày 05/11/2021.
Buộc bị cáo phải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ
thẩm; Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận - TANDTP Hà Nội; - VKSND huyện Hoài Đức; - Trại tạm giam CATPHN; - Chị cục THA huyện Hoài Đức; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ; | §ç V¨n Nghiªm |