vanban.org

Bản án 134/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị H.

Buộc vợ chồng ông Đỗ Phú Ph bà Nguyễn Thị Thu Th liên đới trả cho Lê Thị H số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng). Buộc bà Nguyễn Thị Thu Th trả cho Lê Thị H số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Bà H yêu cầu vợ chồng ông Ph trả nợ"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HOÀI NHƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH ĐỊNH
Bản án số: 134/2021/DS-ST
Ngày: 09-4-2021
V/v tranh chấp về hợp đồng
vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hồng Hoàng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trương Thị Diện

2. Ông Phan Á

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Ly – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 4 năm 2021 tại Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 34/2019/TLST-DS ngày 23 tháng 12 năm 2019 về việc Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2021/QĐXX-ST ngày 01 tháng 3 năm 2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị H, sinh năm 1968 (Có mặt)

Địa chỉ: Khu phố HT1, phường HX, thị xã H, tỉnh B.

2. Bị đơn: Vợ chồng ông Đỗ Phú Ph, sinh năm 1987 (Vắng mặt)

bà Nguyễn Thị Thu Th, sinh năm 1992 (Vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Khu phố LT, phường HĐ, thị xã H, tỉnh B.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, lời trình bày của nguyên đơn bà H, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa: Ngày 29/8/2014 Âm lịch, vợ chồng ông Ph bà Th mượn của bà số tiền 15.000.000 đồng, có viết giấy mượn tiền, ông Ph bà Th ký tên và hẹn thời gian trả là 01 tháng. Ngày 23/9/2014 Âm lịch, bà Th mượn của bà số tiền 10.000.000 đồng, có viết giấy mượn tiền, bà Th ký tên và hẹn thời gian trả là 10 ngày. Bà đã đòi nhiều lần nhưng ông Ph bà Th không trả. Nay bà H yêu cầu ông Ph bà Th trả số tiền 15.000.000 đồng và yêu cầu bà Th trả số tiền 10.000.000 đồng. Bà H không còn yêu cầu gì khác.

- Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Đỗ Phú Ph bà Nguyễn Thị Thu Th không nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến đối với yêu cầu của H, không đến Tòa án để làm việc theo giấy triệu tập, thông báo và giấy báo.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn tỉnh Bình Định: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo qui định. Kiến nghị khắc phục vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử. Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu của bà H, buộc ông Ph bà Th liên đới trả cho bà H số tiền 15.000.000 đồng; buộc bà Th trả cho bà H số tiền 10.000.000 đồng; ông Ph bà Th phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn thực hiện nghĩa vụ trả nợ tiền vay nên theo khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự quan hệ pháp luật được xác định là Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản. Bị đơn ông Ph bà Th đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Khu phố LT, phường HĐ, thị xã H, tỉnh B nên theo điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn tỉnh Bình Định có thẩm quyền giải quyết vụ án.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa, theo qui định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.

Ông Ph bà Th thường xuyên vắng mặt tại nơi cư trú, ít khi có mặt tại địa phương, không rõ thời gian trở về nên Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập và các văn bản tố tụng khác của Tòa án nhưng ông Ph bà Th không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, không chấp hành việc triệu tập của Tòa án. Do đó, Tòa án không lấy ý kiến của ông Ph bà Th để làm rõ các nội dung liên quan đến yêu cầu của bà H được, không tiến hành hòa giải được. Ông Ph bà Th không có ý kiến, trình bày để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; không thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo qui định của pháp luật nên phải chịu trách nhiệm cho việc không thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Tòa án sẽ căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết theo qui định của pháp luật.

Qua xem xét Giấy mượn tiền ngày 29/8/2014 Âm lịch và ngày 23/9/2014 Âm lịch do bà H cung cấp, thấy rằng, đây là hợp đồng vay tài sản có kỳ hạn và không có lãi. Tại giấy mượn ghi người cho mượn là “cô H”, tuy nhiên theo bà H đây là do cách phát âm nên bà Th đã ghi sai tên của bà. Mặt khác, Tòa án đã niêm yết công khai bản sao đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ, thông báo về việc thụ lý vụ án nhưng ông Ph bà Th không có ý kiến phản đối. Vì vậy, có thể xác định ngày 29/8/2014 Âm lịch, vợ chồng ông Ph bà Th vay của bà H số tiền 15.000.000 đồng, ngày 23/9/2014 Âm lịch bà Th vay của bà H số tiền 10.000.000 đồng và chưa trả nợ cho bà H là đúng sự thật. Do đó, chấp nhận yêu cầu của bà H, buộc vợ chồng ông Ph bà Th phải trả nợ cho bà.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo qui định tại khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án thì yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, cụ thể vợ chồng ông Ph bà Th chịu 15.000.000 đồng x 5% = 750.000 đồng, bà Th chịu 10.000.000 đồng x 5% = 500.000 đồng.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, đúng theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các điều 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 27, 37 của Luật Hôn nhân và gia đình; các điều 288, 357, 463, 466, 470 của Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án; tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị H.

- Buộc vợ chồng ông Đỗ Phú Ph bà Nguyễn Thị Thu Th liên đới trả cho Lê Thị H số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng).

- Buộc bà Nguyễn Thị Thu Th trả cho Lê Thị H số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất qui định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2/ Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Vợ chồng ông Đỗ Phú Ph bà Nguyễn Thị Thu Th phải chịu 750.000 đồng (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng).

- Bà Nguyễn Thị Thu Th phải chịu 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng).

- Trả lại cho bà Lê Thị H số tiền 625.000 đồng (Sáu trăm hai mươi lăm nghìn đồng) bà đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005562 ngày 20 tháng 12 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hoài Nhơn tỉnh Bình Định.

3/ Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

4/ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ