- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lường Văn H - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lường Văn Hặc phạm tội: "Mua bán trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 134/2020/HSST. Ngày: 16/7/2020. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lường Văn Lương.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lường Văn Hịa;
2. Bà Phạm Thị Hồng Phượng.
- Thưkýphiêntoà: Bà Trần Thúy Dần - Thẩm traviên Toàánnhândân huyện Đ B.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 16/7/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ B, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 139/2020/TLST-HS ngày 30/6/2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 137/2020/QĐXXST-HS ngày 03/7/2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lƣờng Văn H; Tên gọi khác: Không, sinh năm: 1966, tại Sơn La.
Nơi cư trú: Bản H C 1, xã M P, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên.
Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 2/10; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lường Văn Chung, sinh năm 1932 và bà: Lường Thị Héo, (đã chết); Có vợ: Lường Thị Gióng, sinh năm 1972 và 03 con, con lớn sinh năm 1990, con nhỏ sinh năm 1995; Tiền án: 01 tiền án; tiền sự: Không; Nhân thân: Bị cáo đã có án tích chưa được xóa, không bị xử lý hành chính; bị bắt từ ngày 23/4/2020 cho đến nay. "có mặt".
Ngƣời bào chữa cho bị cáo: Ông Hoàng Tiến Ngọ - Luật sư của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên."Có mặt".
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 22/4/2020, bị cáo đi từ nhà đến khu vực đường trước cửa nhà thuộc bản H C 1, xã M P, huyện Đ B với mục đích là mua ma túy về sử dụng và bán lẻ cho người khác. Bị cáo mua được 01 gói Heroine và 02 viên hồng phiến với giá tiền là 250.000đ của một người đàn ông dân tộc Mông khoảng 40 tuổi không biết lai lịch. Khoảng 13 giờ ngày 23/4/2020 bị cáo lấy gói Heroine mua được ngày 22/4/2020 ra sử dụng một ít, số Heroine còn lại bị cáo chia thành 03 gói nhỏ gói túi ni lon màu xanh hàn kín rồi cất cùng với 02 viên hồng phiến vào túi quần bên phải đang mặc. Hồi 15 giờ cùng ngày khi bị cáo đang ở nhà thì bị Tổ công tác Đồn Biên phòng Mường Pồn phối hợp với Công an xã M P phát hiện bắt quả tang thu giữ tại túi quần bên phải bị cáo đang mặc 01 gói Heroine và 02 viên hồng phiến; thu giữ tại túi quần bên trái bị cáo đang mặc 01 tờ tiền VNĐ mệnh giá 200.000 đồng.
Ngoài ra bị cáo còn khai: Khoảng 14 giờ 50 phút ngày 23/4/2020 bị cáo còn bán 02 gói Heroine được 200.000 đồng cho một người đàn ông dân tộc Thái khoảng 30 tuổi không biết tên và địa chỉ. Số tiền này bị cáo cất vào túi quần đang mặc.
Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng ngày 24/4/2020 đã xác định:
- Số chất bột màu trắng thu giữ của bị cáo Lường Văn H có khối lượng 0,07 gam;
- Số viên nén màu hồng thu giữ của bị cáo có khối lượng 0,18 gam.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại bản kết luận giám định số: 371/GĐ - PC09 ngày 02/5/2020, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận:
- Mẫu chất bột màu trắng được trích từ vật chứng thu giữ của Lường Văn H gửi giám định là Heroine;
- Mẫu viên nén màu hồng được trích từ vật chứng thu giữ của Lường Văn H gửi giám định là Methamphetamine;
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Hội đồng giám định nêu trên.
Tại bản cáo trạng số: 138/CT-VKSĐB ngày 29/6/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ B đã truy tố bị cáo Lường Văn H về tội: Mua bán trái phép chất ma túy, quy định tại khoản 1 Điều 251/BLHS;
Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Đ B vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điểm h Khoản 1 Điều 52/BLHS. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47/BLHS; điểm a khoản 2, Khoản 3 Điều 106/BLTTHS về xử lý vật chứng. Tịch thu tiêu hủy 0,07 gam Heroine, gửi giám định toàn bộ và 0,18 gam Methamphetamine, gửi giám định 0,09 gam (không hoàn lại mẫu vật sau giám định); Trả lại 200.000 đồng cho bị cáo. Bị cáo được miễn án phí HSST.
- Ý kiến của ngƣời bào chữa: Việc truy tố bị cáo về tội danh là đúng quy định của pháp luật. Bị cáo thành khẩn khai báo, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo là quân tình nguyện Việt Nam giúp Lào được tặng kỷ niệm chương, bị cáo có chú ruột là Lường Văn Xiên là người có công vớ cách mạng được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng Ba. Bị cáo là dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51/BLHS. Đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo mức án thấp nhất mà Viện kiểm sát đề nghị là 02 năm 06 tháng tù.
- Ý kiến VKS: Vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và luận tội đối với bị cáo và không tranh luận gì thêm.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi của bị cáo: Ngày 22/4/2020, bị cáo đi mua ma túy về để sử dụng và để bán cho người khác và đã bán ma túy cho một người không biết tên tuổi được 200.000đ, bị cáo đang cất giấu 0,07 gam Heroine và 0,18 gam Methamphetamine thì bị bắt cùng 200.000đ.
Hành vi của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và lấy mẫu giám định, kết luận giám định, kết luận điều tra, các bản cung có trong hồ sơ vụ án cũng như cáo trạng đã truy tố. Với hành vi và khối lượng ma túy bị thu giữ thì bị cáo đã phạm vào tội: "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 251/BLHS. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật. Bị cáo là người có đủ năng lực để chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội của mình.
. Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội; đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Bởi vì, ma túy là một hiểm họa của nhân loại, đồng thời ma túy cũng là nguyên nhân của nhiều loại tội phạm khác. Chính vì thế mà Nhà nước ta đã nghiêm cấm mọi hành vi có liên quan đến ma túy. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma tuý, nhận thức được hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, song bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Tội phạm mà bị cáo vi phạm là nghiêm trọng, nên cần phải xử lý bị cáo theo quy định của pháp luật.
. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Năm 2006 bị cáo bị TAND huyện Đ B xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 23/5/2018 bị cáo bị TAND huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, ngày 15/5/2019 được ra trại, chưa được xóa án tích, ngày 23/4/2020 bị cáo phạm tội trong vụ án này nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là "tái phạm" theo điểm h khoản 1 Điều 52/BLHS.
Sau khi phạm tội và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, bị cáo là quân tình nguyện Việt Nam giúp Lào được tặng kỷ niệm chương, bị cáo có chú ruột là Lường Văn Xiên được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng Ba nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51/BLHS.
Để cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian.
Tại phiên tòa hôm nay người bào chữa cho bị cáo cho rằng: Bị cáo là quân tình nguyện Việt Nam giúp Lào được tặng kỷ niệm chương, bị cáo có chú ruột là Lường Văn Xiên là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng Ba. Bị cáo có 01 tình tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 1 và khoản 2 Điều 51/BLHS nên đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo mức án 02 năm 06 tháng tù.
Hội đồng xét xử xét thấy: Với khối lượng chất ma túy như trên, căn cứ vào nhân thân cũng như hành vi của bị cáo đã thực hiện thì mức án 02 năm 06 tháng đối với bị cáo là phù hợp. Do vậy, HĐXX chấp nhận ý kiến của người bào chữa.
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Công an huyện Đ B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính là phạt tù thì bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251/BLHS là phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Nhưng xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có khả năng thi hành. Cho nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Nguồn gốc số ma túy bị thu giữ có được theo bị cáo khai là do bị cáo mua của một người Mông không biết lai lịch, nên CQĐT không xác minh làm rõ được.
Đối với người đàn ông dân tộc Thái đã mua ma túy của bị cáo để sử dụng, do bị cáo không biết lai lịch, nên CQĐT không xác minh làm rõ được. Nên không đủ căn cứ chứng minh là bị cáo phạm tội nhiều lần.
Trả lại số tiền 200.000 đồng cho bị cáo.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 136/BLTTHS, nhưng bị cáo là người dân tộc thiểu số hiện đang cư trú tại xã đặc biệt khó khăn theo Quyết định 900/QĐ-TTg ngày 20/6/2017 của chính phủ. Căn cứ theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo được miễn án phí HSST.
. Vật chứng: 0,07 gam Heroine, gửi giám định 0,07 gam và 0,18 gam Methamphetamine, gửi giám định 0,09 gam (không hoàn lại mẫu vật sau giám định) cần bị tịch thu tiêu hủy; trả lại cho bị cáo số tiền 200.000đ do bị cáo bán ma túy mà có theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47/BLHS; điểm a khoản 2, Khoản 3 Điều 106/BLTTHS.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Lường Văn Hặc phạm tội: "Mua bán trái phép chất ma túy".
2. Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điểm h Khoản 1 Điều 52/BLHS xử phạt bị cáo Lường Văn Hặc 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt ngày 23/4/2020.
3. Áp dụng: Điểm c Khoản 1 Điều 47/BLHS; Điểm a Khoản 2, Khoản 3 Điều 106/BLTTHS: Tịch thu, tiêu hủy 0,07 gam Heroine, gửi giám định 0,07 gam và 0,18 gam Methamphetamine, gửi giám định 0,09 gam (không hoàn lại mẫu vật sau giám định); trả lại cho bị cáo số tiền 200.000 đồng.
(Vật chứng đã được công an huyện Đ B chuyển cho chi cục thi hành án dân sự huyện Đ B ngày 01/7/2020).
4. Án phí: Áp dụng Điều 136/BLTTHS; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo được miễn án phí HSST.
5. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND T Điện Biên; - VKSND H Điện Biên; - VKS tỉnh;. - CQĐTCA H Điện Biên; - Phòng HNVCA T Điện Biên; - Sở TP Điện Biên; - THA HS tỉnh ĐB; - Nhà tạm giữ CAHĐB; - Chi cục THADSHĐB; - Bị cáo; - Lưu. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lƣờng Văn Lƣơng |