vanban.org

Bản án 134/2020/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Dương Tuyên án 11/09/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 11/09/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

C n cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố t ng hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn V n E; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 147/2020/HS-ST ngày 09/6/2020 của Tòa án nhân dân thành phố T tỉnh Bình Dương. Áp d ng khoản 1 Điều 321; Điều 46; Điều 47; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự n m 2015 được sửa đổi bổ s… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn E - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? C n cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố t ng hình sự;
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 134/2020/HS-PT
Ngày: 01-9-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Huỳnh Đức.

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Sang;

Ông Lê Quân Vương;

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 9 n m 2020 tại tr s Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương m phiên toà xét xử phúc thẩm công khai v án hình sự phúc thẩm th lý số 134/2020/TLPT-HS ngày 22 tháng 7 n m 2020 đối với bị cáo Nguyễn V n E. Do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn V n E đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 147/2020/HS-ST ngày 09 tháng 6 n m 2020 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn V n E (tên gọi khác: Duyên E) sinh n m 1962 tại tỉnh Bình Dương; nơi cư trú: Số 84/9 đường C, khu phố C, phường L, thành phố T tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh B (chết) và bà Nguyễn Thị B1; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Lê M và 03 người con; tiền án tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 08/5/1980 bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 n m tù về tội “Cướp giật tài sản”; ngày 25/7/2005, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xử phạt 06 tháng tù về tội “Đánh bạc” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 163/2005/HS-ST; ngày 31/5/2006 bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xử phạt 03 n m tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản” tại Bản án bản án hình sự sơ thẩm số 131/2006/HS-ST; bị cáo bị bắt tạm giữ tạm giam từ ngày 28/8/2019 đến ngày 25/11/2019 được thay đổi biện pháp ng n chặn tạm giam bằng biện pháp ng n chặn cho bảo lĩnh bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra trong bản án còn có các bị cáo khác nhưng không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên tòa nội dung v án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ 00 phút ngày 28/8/2019 tại khu vực trước sân nhà của Lý Thanh T, địa chỉ số 6/9, khu phố T, phường V, thị xã T (nay là thành phố T), tỉnh Bình Dương, Đội cảnh sát hình sự Công an thị xã T (nay là thành phố T) phối hợp với Công an phường V phát hiện bắt quả tang Trần Minh H, Đặng Sỹ S, Nguyễn Minh H1, Nguyễn Hoàng T1, Phan Anh T2, Nguyễn Châu K, Nguyễn V n E, Phạm Minh C, Phùng Thanh B2, Nguyễn Trọng T3, Đặng Hoàng L đang có hành vi đánh bạc bằng hình thức lắc tài xỉu thắng thua bằng tiền do Đặng Sỹ S và Nguyễn Hoàng T1 lần lượt làm nhà cái. Tang vật thu giữ: số tiền 6.200.000 đồng tại chiếu bạc, 02 bộ lắc xí ngầu 01 bàn nhựa, 05 cái ghế màu đỏ, số tiền 900.000 đồng của Đặng Sỹ S; số tiền 500.000 đồng của Phan Anh T2; số tiền 5.400.000 đồng của Nguyễn Hoàng T1; số tiền 1.600.000 đồng của Nguyễn Minh H1; số tiền 3.200.000 đồng của Nguyễn Châu K; số tiền 4.860.000 đồng của Nguyễn V n E; số tiền 65.000 đồng của Phạm Minh C; số tiền 1.670.000 đồng của Phùng Thanh B2; số tiền 2.000.0000 đồng của Nguyễn Trọng T3; số tiền 270.000 đồng của Lý Thanh T.

Quá trình điều tra xác định: Vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 28/8/2019 Trần Minh H cùng với Lý Thanh T và đối tượng tên X tổ chức cho Đặng Sỹ S, Nguyễn Minh H1, Nguyễn Hoàng T1, Phan Anh T2, Nguyễn Châu K, Nguyễn V n E, Phạm Minh C, Phùng Thanh B2, Nguyễn Trọng T3, Đặng Hoàng L tham gia đánh bạc dưới hình thức lắc tài xỉu thắng thua bằng tiền trước sân nhà của T tại địa chỉ số 6/9, khu phố T, phường V thị xã (nay là thành phố) T tỉnh Bình Dương. Hình thức đánh bạc như sau: Người chơi đặt tiền vào bên có chữ Tài hoặc Xỉu theo quy định. Nhà cái s lắc 03 hột xí ngầu được đựng trong 01 đĩa sứ màu trắng và 01 hộp hình tr tròn màu đen. Sau khi lắc xong và m nắp hộp ra nếu tổng số điểm thể hiện trên mặt ngửa của 03 hột xí ngầu cộng lại từ 04 điểm đến 10 điểm là Xỉu 11 điểm đến 17 điểm là Tài. Nếu nhà cái lắc ra 03 mặt ngửa của 03 hột xí ngầu giống nhau về số nút thì nhà cái bão có nghĩa là nhà cái thắng toàn bộ số tiền cá cược ván đó của các con bạc. Hình thức n thua: Mỗi ván người chơi đặt từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng n thua trực tiếp với nhà cái. Bị cáo Lý Thanh T sử d ng khu vực sân trước nhà của T tại địa chỉ số 6/9, khu phố T, phường V, thị xã T (nay là thành phố T), tỉnh Bình Dương 01 bàn nhựa 05 ghế đỏ để các con bạc tham gia đánh bạc. Sòng bạc được tổ chức tính đến ngày bắt quả tang là 05 ngày tổng số tiền T được H chia từ việc thu tiền xâu là 1.100.000 đồng và đã sử d ng số tiền trên để tiêu xài cá nhân còn lại 270.000 đồng đã bị thu giữ. H có nhiệm v kêu gọi các con bạc đến tham gia thu tiền xâu và bố trí nơi giữ xe khi các con bạc đến tham gia. H thuê đối tượng tên X (không rõ lai lịch địa chỉ) ph giúp thu tiền xâu và mua đồ n thức uống ph c v cho các con bạc. H quy định cứ mỗi giờ đồng hồ nhà cái phải đưa tiền xâu cho H là 300.000 đồng. Nếu nhà cái bão (tức là 03 hột tài xỉu có mặt ngữa giống nhau) thì nhà cái s thắng hết số tiền đặt cược của các con bạc lúc này H s được hư ng lợi 50% số tiền nhà cái vừa thắng ván bạc đó.

Quá trình điều tra xác định số tiền các bị cáo sử d ng để đánh bạc như sau:

Đặng Sỹ S (Mười) mang theo 6.000.000 đồng sử d ng hết để đánh bạc thua 5.100.000 đồng bị tạm giữ số tiền 900.000 đồng trong người.

Phan Anh T2 mang theo 5.000.000 đồng sử d ng 1.500.000 đồng để đánh bạc và hùn vốn làm cái với S 3.500.000 đồng thua 1.000.000 đồng bị tạm giữ trong người 500.000 đồng.

Nguyễn Hoàng T1 mang theo 4.000.000 đồng sử d ng hết để đánh bạc thắng 1.700.000 đồng đưa tiền xâu cho đối tượng X 300.000 đồng bị tạm giữ trong người 5.400.000 đồng.

Nguyễn Minh H1 mang theo 600.000 đồng sử d ng hết để đánh bạc thắng 1.000.000 đồng bị tạm giữ 1.600.000 đồng trong người.

Nguyễn Châu K mang theo 1.200.000 đồng sử d ng hết để đánh bạc thắng 2.000.000 đồng bị tạm giữ 3.200.000 đồng trong người.

Nguyễn V n E mang theo 4.560.000 đồng sử d ng hết để đánh bạc thắng 300.000 đồng bị tạm giữ trong người 4.860.000 đồng.

Phạm Minh C mang theo 565.000 đồng sử d ng hết đánh bạc thua 500.000 đồng bị tạm giữ trong người 65.000 đồng.

Phùng Thanh B2 mang theo 1.670.000 đồng sử d ng hết để đánh bạc không thắng không thua bị tạm giữ trong người 1.670.000 đồng.

Nguyễn Trọng T3 mang theo 4.000.000 đồng sử d ng hết đánh bạc thua 2.000.000 đồng bị tạm giữ trong người 2.000.000 đồng.

Tổng số tiền đánh bạc là 27.595.000 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 147/2020/HS-ST ngày 09/6/2020 của Tòa án nhân dân thành phố T tỉnh Bình Dương đã tuyên xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn V n E phạm tội “Đánh bạc”.

Áp d ng khoản 1 Điều 321; Điều 46; Điều 47; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự n m 2015 được sửa đổi bổ sung n m 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn V n E 01(một) n m tù về tội “Đánh bạc” thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án được khấu trừ thời hạn tạm giữ tạm giam từ ngày 28/8/2019 đến ngày 25/11/2019.

Ngoài ra bản án còn tuyên phạt các bị cáo Phạm Minh C 40.000.000 đồng; Đặng Sỹ S, Phan Anh T2, Nguyễn Hoàng T1, Nguyễn Minh H1, Nguyễn Trọng T3, Phùng Thanh B2, Nguyễn Châu K mỗi bị cáo số tiền 30.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”. Tuyên phạt bị cáo Lý Thanh T 05 (n m) n m tù về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 322 Bộ luật Hình sự n m 2015 (sửa đổi bổ sung n m 2017). Riêng đối với Trần Minh H và X chưa bắt được nên cơ quan điều tra tiến hành xác minh làm rõ khi nào bắt được s xử lý sau.

Ngoài ra bản án còn xử lý vật chứng tuyên về án phí và quyền kháng cáo của bị cáo.

Ngày 22/6/2020 bị cáo Nguyễn V n E có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hư ng án treo.

Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa trình bày quan điểm giải quyết v án: Về thời hạn kháng cáo đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn V n E còn trong thời hạn luật định nên Tòa án nhân dân dân tỉnh Bình Dương đưa v án ra xét xử theo thủ t c phúc thẩm là đúng theo quy định tại các Điều 332 333 Bộ luật Tố t ng hình sự. Về nội dung tại phiên tòa bị cáo E khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm. Khi quyết định hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết t ng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo để xử phạt bị cáo 01 (một) n m tù về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự n m 2015 (sửa đổi bổ sung n m 2017) là đúng người đúng tội đúng quy định của pháp luật. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hư ng án treo nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào khác bị cáo có nhân thân xấu. Do đó không có cơ s để chấp nhận kháng cáo của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

Trong lời nói sau cùng bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt và xin hư ng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung v án c n cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về nội dung:

Ngày 28/8/2019, tại sân nhà của bị cáo Lý Thanh T (địa chỉ: Số 6/9 khu phố T, phường V, thành phố T tỉnh Bình Dương) Trần Minh H cùng với Lý Thanh T tổ chức cho Đặng Sỹ S, Nguyễn Minh H1, Nguyễn Hoàng T1, Phan Anh T2, Nguyễn Châu K, Nguyễn V n E, Phạm Minh C, Phùng Thanh B2, Nguyễn Trọng T3 và Đặng Hoàng L tham gia đánh bạc dưới hình thức lắc tài xỉu thắng thua bằng tiền với tổng số tiền dùng để đánh bạc là 27.595.000 đồng. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn V n E về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự n m 2015 (sửa đổi bổ sung n m 2017) là đúng người đúng quy định của pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn V n E: Hội đồng xét xử xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết t ng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo để xử phạt bị cáo 01 (một) n m tù về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự n m 2015 (sửa đổi bổ sung n m 2017). Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hư ng án treo vì cho rằng bị cáo có hoàn cảnh khó kh n là lao động chính trong gia đình bị cáo phải nuôi con nhỏ và nuôi dưỡng mẹ già. Hội đồng xét xử xét thấy những tình tiết mà bị cáo nêu ra tại đơn kháng cáo không phải là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới trình bày của bị cáo về hoàn cảnh, nhân thân đã được Hội đồng xét xử sơ thẩm xem xét và áp d ng đối với bị cáo. Mặt khác, bị cáo có nhân thân xấu nhiều lần vi phạm pháp luật và đã bị xử phạt hình sự nhưng vẫn không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp t c phạm tội với lỗi cố ý. Do đó hành vi phạm tội lần này của của bị cáo không đủ điều kiện để hư ng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự và Điều 3 của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp d ng Điều 65 Bộ luật Hình sự về án treo. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới Tòa án cấp sơ thẩm áp d ng hình phạt 01 (một) n m tù đối với hành vi phạm tội của bị cáo là phù hợp. Do vậy Hội đồng xét xử không có cơ s chấp nhận kháng cáo của các bị cáo giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn V n E phải nộp theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

C n cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố t ng hình sự;

1. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn V n E; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 147/2020/HS-ST ngày 09/6/2020 của Tòa án nhân dân thành phố T tỉnh Bình Dương.

Áp d ng khoản 1 Điều 321; Điều 46; Điều 47; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự n m 2015 được sửa đổi bổ sung n m 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn V n E 01 (một) n m tù về tội “Đánh bạc” thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án được khấu trừ thời hạn tạm giữ tạm giam từ ngày 28/8/2019 đến ngày 25/11/2019.

2. Án phí hình sự phúc thẩm: Áp d ng Điều 136 của Bộ luật Tố t ng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Nguyễn V n E phải nộp 200.000 (hai tr m nghìn) đồng.

3. Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ