vanban.org

Bản án 134/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La Tuyên án 19/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

p d ng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Vì Văn H ph m tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Xử ph t: Vì Văn H 16 (mười sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình ph t tù tính từ ngày t m giữ, t m giam ngày (20-7-2019). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi Van H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? p d ng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG MÃ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SƠN LA
Bản án số: 134/2019/HSST
Ngày: 19-11-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lường Văn Quyết.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Quàng Văn Tiện; bà Cầm Thị Tươi.

- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Điệp, thư ký Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Quân – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2019, t i Tr s Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự th lý số: 134/2019/HSST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2019, theo Quyết định đưa v án ra xét xử số: 129/ 2019/QĐXXST-HS ngày 08-11-2019, đối với bị cáo sau đây:

Họ và tên: Vì Văn H, sinh năm 2000; nơi ĐKHKTT: Bản Chiềng C, xã C, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; Chức v , đảng, đoàn thể: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 8/12; con ông: Vì Văn E; con bà: Lường Thị B; vợ, con: Chưa có; tiền án; tiền sự: Không; bị bắt t m giữ, t m giam từ ngày 20-7-2019 cho đến nay. Có mặt t i phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến t i phiên toà, nội dung v án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 00 phút ngày 20-7-2019, tổ công tác Công an huyện Sông Mã phối hợp với Công an xã C làm nhiệm v t i bản Chiềng C, xã C, Sông Mã phát hiện bắt quả tang Vì Văn H có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy. Thu giữ t i phía sau ốp điện tho i của Hinh 01 gói nilon màu xanh bên trong chứa 01 viên nén màu hồng hình tròn (Hinh khai là Hồng phiến). T m giữ của Hinh 01 điện tho i di động nhãn hiệu Vivo màu vàng bị vỡ màn hình. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người ph m tội quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng theo quy định.

Ngày 21/7/2019, t i Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La tiến hành m niêm phong, xác định khối lượng và trích mẫu giám định. Kết quả 01 viên nén màu hồng thu giữ của H có khối lượng 0,11gam đã sử d ng hết làm mẫu giám định ký hiệu H.

T i bản kết luận giám định số 1305 ngày 25/7/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La:“Mẫu gửi giám định ký hiệu H là ma túy, loại Methamphetamine, tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,11gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,11gam, loại Methamphetamine”.

Quá trình điều tra xác định được như sau:

Vì Văn H sử d ng ma túy từ tháng 3 năm 2019. Khoảng 09 giờ ngày 19-7-2019 H đang nhà t i bản Chiềng C, xã C, Sông Mã thì có Quàng Văn N, SN 2001 cùng bản đến nhà để rủ đi làm thuê dưới Hà Nội. T i đây, H rủ N góp tiền mua ma túy cùng sử d ng thì Ng đồng ý đưa cho H 50.000VNĐ. H nhận tiền, rồi một mình điều khiển xe mô tô đến bản Bua H, xã M, Sông Mã tìm mua ma túy. T i bản Bua H, H gặp một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết qua nói chuyện H hỏi mua được của người này 02 viên Hồng phiến với giá 100.000VNĐ. Mua được ma túy, H quay về nhà nói với N đã mua được Hồng phiến (nhưng không nói là mua được bao nhiêu viên) rồi cả hai cùng nấu cơm ăn.

Khoảng 14 giờ cùng ngày, có Vì Văn K sinh ngày 28/01/2004 cùng bản và Cầm Bách P sinh năm 1998 bản B, cùng xã C, Sông Mã đến để rủ H, N đi làm thuê. Sau đó H rủ N, P, K đi lên nương của gia đình H (cách nhà Hinh khoảng 1km) để cùng nhau sử d ng hồng phiến. T i nương, H lấy mảnh giấy b c, tẩu tự chế và 01 viên hồng phiến ra cả 04 người cùng sử d ng bằng hình thức đốt hít qua đường hô hấp. Còn 01 viên H vẫn cất giấu trong túi quần đang mặc nhưng không nói cho N biết. Sử d ng xong cả bốn người đi về nhà chuẩn bị đồ bắt xe khách xuống Hà Nội.

T i nhà H, lúc này có một mình nên H lấy viên hồng phiến cất giấu trong túi quần rồi lấy mảnh nilon màu xanh gói l i cất giấu vào mặt sau ốp lưng điện tho i cầm theo quần áo cùng N, K, P xuống quốc lộ 4G gần UBND xã C đứng đợi bắt xe. Do xe đông khách, trời tối không bắt được xe nên cả bốn cùng nhau đến nhà anh Vì Văn B SN 1979 bản Chiềng C, xã C, Sông Mã (là bác của H) để ngủ qua đêm. Đến khoảng 11 giờ ngày 20/7/2019 khi H, N, K, P đang nhà anh B chờ bắt xe thì bị tổ công tác Công an huyện Sông Mã phối hợp với Công an xã C kiểm tra hành chính phát hiện H có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người ph m tội quả tang thu giữ vật chứng nêu trên của H. Đối với N, P và K tổ công tác tets ma túy dương tính nên Công an xã C Cang đã lập hồ sơ đưa đi cắt cơn cai nghiện t i Cơ s điều trị nghiện ma túy.

Cáo tr ng số: 132/CT-VKSSM, ngày 30 tháng 10 năm 2019 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã truy tố Vì Văn H về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

T i phiên toà, Kiểm Sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp d ng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Ph t bị cáo từ 16 đến 20 tháng tù. Xét hoàn cảnh khó khăn nên miễn hình ph t bổ sung cho bị cáo; vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu được thẩm tra t i phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận t i phiên tòa; trên cơ s xem xét đầy đủ toàn diện, chứng cứ, ý kiến Kiểm sát viên, bị cáo cùng các chứng cứ khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng t i phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan điều tra Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ t c quy định của Bộ luật tố t ng hình sự. Quá trình điều tra và t i phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu n i về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó, các hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị cáo bị bắt quả tang khi đang có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý, với m c đích để sử d ng. Tang vật thu giữ được theo kết luận giám định là ma tuý, khối lượng 0,11gam, lo i Methamphetamine.

T i phiên toà bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi ph m tội của mình; lời khai nhận hoàn toàn thống nhất với lời khai t i cơ quan Điều tra; phù hợp với nội dung, tội danh bản Cáo tr ng; lời khai nhận của bị cáo c ng phù hợp với biên bản ph m tội qủa tang, lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ v án. T i phiên tòa không phát sinh tình tiết mới, bị cáo hoàn toàn nhất trí và không có tranh luận với Kiểm sát viên, ý kiến cuối cùng xin được giảm nh hình ph t. Như vậy, Hội đồng xét xử có cơ s để kết luận: Vì Văn Hinh ph m tội “Tàng trữ trái ph p ch t ma tuý”, tội ph m và hình ph t được quy định t i điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, kh i tố của cơ quan Điều tra và Truy tố tội ph m của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi ph m tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội; xâm ph m sự quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy; gây mất trật tự trị an t i địa phương, gây bức xúc trong nhân dân. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ tác h i của hình vi. Vì vậy, cần phải xử lý bị cáo nghiêm khắc, nhằm răn đe, cải t o, giáo d c và phòng ngừa chung.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; t i cơ quan Điều tra và t i phiên toà thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nh quy định t i điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần áp d ng cho bị cáo được hư ng. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Đối với Quàng Văn N là người góp 50.000VNĐ cho bị cáo đi mua ma túy về cùng sử d ng. Tuy nhiên, trước khi góp tiền N không biết H có góp tiền hay không, khi mua được hồng phiến bị cáo c ng không nói cho N biết mua được bao nhiêu viên. Khi H cùng N, K, P sử d ng ma túy, H chỉ bỏ 01 viên hồng ra sử d ng, còn 01 viên bị cáo cất giấu trong túi quần đang mặc không nói cho ai biết. Quá trình Điều tra, đối chất giữa bị cáo và Quàng Văn N thì N không thừa nhận và không biết việc bị cáo cất giấu ma túy trong ốp điện tho i nên không đủ căn cứ truy cứu N về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tuy nhiên Quàng Văn N là đối tượng sử d ng ma túy nên ngày 24/7/2019 UBND xã C đã ra Quyết định áp d ng biện pháp giáo d c t i xã thời h n 03 tháng là có căn cứ, cần chấp nhận.

Đối với Cầm Bách P, Vì Văn K có hành vi sử d ng trái phép chất ma tuý cùng bị cáo. Ngày 24/7/2019 UBND xã C đã ra quyết định áp d ng biện pháp giáo d c t i xã đối với Cầm Bách P thời h n 03 tháng về hành vi sử d ng trái phép chất ma túy. Vì Văn K khi thực hiện hành vi sử d ng trái phép chất ma túy K mới 15 tuổi 5 tháng 21 ngày, chưa đủ tuổi áp d ng biện pháp giáo d c t i xã theo Nghị định 111/2013/NP-CP nên ngày 30/9/2019 Công an huyện Sông Mã ra Quyết định xử ph t hành chính bằng hình thức cảnh cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về Số ma túy thu giữ trong v án: Bị cáo khai mua được của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết bản B, xã M, huyện Sông Mã. Quá trình điều tra, xác minh do bị can không biết tên, tuổi c thể nên không có căn cứ để điều tra làm rõ, cần chấp nhận.

Vật chứng v án còn l i: 01 phong bì thư do bưu điện Việt Nam phát hành được niêm phong dán kín, 01 mảnh nilon màu xanh và 01 vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đều là vật không còn giá trị sử dung, cần tịch thu để tiêu hu . 01 điện tho i di động hiệu VIVO không liên quan đến ph m tội, nên cần trả l i cho bị cáo.

Xét thấy, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có khả năng thi hành nên miễn hình ph t bổ sung ( phạt tiền) cho bị cáo.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định chung.

Về trình bày luận tội và đề xuất mức án của Kiểm sát viên t i phiên toà là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. p d ng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Vì Văn H ph m tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Xử ph t: Vì Văn H 16 (mười sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình ph t tù tính từ ngày t m giữ, t m giam ngày (20-7-2019).

2. Vật chứng: p d ng điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự.

- Tịch thu để tiêu hu : 01 phong bì thư do bưu điện Việt Nam phát hành được niêm phong dán kín, 01 mảnh nilon màu xanh và 01 vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu.

- Trả l i cho bị cáo: 01 điện tho i di động hiệu VIVO, có vỏ màu vàng.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/10/2019 giữa Chi cục thi hành án dân sự và Công an huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La).

3. Về án phí: p d ng Điều 135 Bộ luật tố t ng hình sự, các Điều 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong h n 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ