- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Thị Cẩm L - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? C n cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự n m; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 134/2019/HS-PT Ngày: 16-8-2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Th m ph n - Ch t a phi n t a: Bà Nguyễn Thị Sang;
Th m ph n thành vi n: Ông Nguyễn Huỳnh Đức;
Ông Lê Quân Vương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Lữ Thị Lệ Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 n m 2019 tại trụ s Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương m phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 140/2019/TLPT-HS ngày 10 tháng 7 n m 2019 đối với các bị cáo Võ Thị Cẩm L và đồng phạm đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2019/HS-ST ngày 29 tháng 5 n m 2019 của Tòa án nhân dân huyện P tỉnh Bình Dương.
C c bị c o có kh ng c o:
1. Võ Thị Cẩm L sinh n m 1985, tại tỉnh Đồng Tháp; hộ khẩu thường trú: Tổ 2 khu phố 7 thị trấn V huyện P tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ v n hoá: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ V n L (chết) và bà Nguyễn Thị N(chết); bị cáo có chồng tên Phạm Minh H và có 03 người con (người lớn nhất sinh n m 2004 người nhỏ nhất sinh n m 2014); tiền án tiền sự, nhân thân: Không; áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.
2. Vƣơng Thị Phƣơng T, sinh n m 1977, tại tỉnh Bình Dương; hộ khẩu thường trú: Ấp B, xã A huyện P tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ v n hoá: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vương V n B(chết) và bà Hoàng Thị P; bị cáo có chồng là Đặng V n A; có 03 người con (lớn nhất sinh n m 1999 nhỏ nhất sinh n m 2009); tiền án tiền sự, nhân thân: Không; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.
3. Hoàng Thị Tƣờng V sinh n m 1979, tại tỉnh Bình Dương; hộ khẩu thường trú: Tổ 2 khu phố 7 thị trấn V huyện P tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ v n hoá: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Phước H và bà Nguyễn Thị N; bị cáo có chồng tên Đinh Xuân H(đã ly hôn) và có 04 người con (lớn nhất sinh n m 2001, nhỏ nhất sinh n m 2017); tiền án tiền sự, nhân thân: Không; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.
4. Phạm Thị Hồng N sinh n m 1967 tại Bình Dương; hộ khẩu thường trú: Tổ 2 khu phố 7 thị trấn V huyện P tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ v n hoá: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Đình K và bà Huỳnh Thị Kim D; bị cáo có chồng tên Lê V n B; có 04 người con (lớn nhất sinh n m 1986 nhỏ nhất sinh n m 1996); tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.
5. Huỳnh Thị T sinh n m 1973, tại Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: Ấp K, xã L huyện T tỉnh Bình Dương; chỗ : Ấp B, xã A huyện P, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Cạo mủ cao su; trình độ v n hoá: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh V n L (chết) và bà Đặng Thị B(chết); bị cáo có chồng tên Trần V n L; có 02 người con (lớn sinh n m 1992 nhỏ sinh n m 1994); tiền án tiền sự, nhân thân: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra trong vụ án còn có người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 14/11/2018 tại khu vực đất trống gần tiệm tạp hóa của bà Quách Thị Mai A thuộc tổ 2 khu phố 7 thị trấn V huyện P tỉnh Bình Dương, Võ Thị Cẩm L, Vương Thị Phương T, Phạm Thị Hồng N, Huỳnh Thị T cùng một số đối tượng khác (không rõ họ tên địa chỉ) cùng nhau đánh bạc thắng thua bằng tiền với hình thức chơi “bài cào”. Sau đó, Hoàng Thị Tường V, Nguyễn Thị Thùy Dđến cùng tham gia đánh bạc nhưng Dương đánh 02 ván không thắng không thua nên Dương không tham gia đánh bạc nữa. Khoảng 15 giờ cùng ngày, trong khi Võ Thị Cẩm L, Vương Thị Phương T, Phạm Thị Hồng N, Huỳnh Thị T, Hoàng Thị Tường V và một số đối tượng khác (không rõ nhân thân lai lịch) đang đánh bạc thì bị lực lượng công an thị trấn V bắt quả tang, thu giữ tại chiếu bạc số tiền 8.050.000 đồng.
Quá trình điều tra xác định:
Võ Thị Cẩm L sử dụng số tiền 7.000.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang, Võ Thị Cẩm L thua hết số tiền 2.000.000 đồng số tiền 5.000.000 đồng còn lại bị Cơ quan điều tra thu giữ. Vương Thị Phương T sử dụng số tiền 1.500.000 đồng để đánh bạc đánh thắng được 200.000 đồng. Khi bị bắt quả tang Vương Thị Phương T đã giao nộp số tiền 1.500.000 đồng cho Cơ quan điều tra số tiền còn lại Vương Thị Phương T đã bỏ ra chiếu bạc. Phạm Thị Hồng N sử dụng số tiền 500.000 đồng để đánh bạc, Phạm Thị Hồng N thua hết số tiền 200.000 đồng còn lại số tiền 300.000 đồng Phạm Thị Hồng N đã bỏ ra chiếu bạc. Huỳnh Thị T sử dụng số tiền 400.000 đồng để đánh bạc Huỳnh Thị T thua hết số tiền 400.000 đồng. Hoàng Thị Tường V sử dụng số tiền 200.000 đồng để đánh bạc, Hoàng Thị Tường V thua hết số tiền 200.000 đồng. Như vậy tổng số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc là 14.550.000 đồng, gồm số tiền 8.050.000 đồng thu giữ tại chiếu bạc và số tiền 6.500.000 đồng thu giữ trên người các bị cáo.
Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P thu giữ:
- 01 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng, 01 tấm bạt màu xanh;
- Số tiền 14.550.000 đồng, đây là tiền các bị cáo dùng vào việc phạm tội;
- Số tiền 190.000 đồng do Nguyễn Thị Thùy D giao nộp;
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 Plus của Vương Thị Phương T; 01 điện thoại di động hiệu Nokia 112 của Phạm Thị Hồng N.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2019/HS-ST ngày 29/5/2019 của Toà án nhân dân huyện P tỉnh Bình Dương đã quyết định: Tuyên bố các bị cáo Võ Thị Cẩm L, Vương Thị Phương T, Hoàng Thị Tường V, Phạm Thị Hồng N, Huỳnh Thị T phạm tội “Đánh bạc”.
C n cứ vào khoản 1 Điều 321; các điểm i s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự n m 2015 (được sửa đổi bổ sung n m 2017) xử phạt:
Bị cáo Võ Thị Cẩm L 08 (tám) tháng tù thời hạn tù tính t ngày bắt bị cáo để chấp hành hình phạt tù.
Bị cáo Vương Thị Phương T 07 (bảy) tháng tù thời hạn tù tính t ngày bắt bị cáo để chấp hành hình phạt tù.
Bị cáo Hoàng Thị Tường V 06 (sáu) tháng tù thời hạn tù tính t ngày bắt bị cáo để chấp hành hình phạt tù.
Bị cáo Phạm Thị Hồng N 06 (sáu) tháng tù thời hạn tù tính t ngày bắt bị cáo để chấp hành hình phạt tù.
Bị cáo Huỳnh Thị T 06 (sáu) tháng tù thời hạn tù tính t ngày bắt bị cáo để chấp hành hình phạt tù.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng biện pháp tư pháp án phí và quyền kháng cáo.
Trong các ngày 30 và 31/5/2019 các bị cáo Võ Thị Cẩm L, Vương Thị Phương T, Hoàng Thị Tường V, Phạm Thị Hồng N và Huỳnh Thị T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hư ng án treo.
Đại diện Viện kiểm s t nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phi n t a trình bày quan điểm giải quyết vụ n: Về thời hạn kháng cáo đơn kháng cáo của các bị cáo Võ Thị Cẩm L, Vương Thị Phương T, Hoàng Thị Tường V, Phạm Thị Hồng N và Huỳnh Thị T còn trong thời hạn luật định nên Tòa án nhân dân dân tỉnh Bình Dương đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục phúc thẩm là đúng theo quy định tại các Điều 332 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Về nội dung Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự n m 2015 (sửa đổi bổ sung n m 2017) là đúng người đúng tội đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Sau khi phạm tội các bị cáo thành khẩn khai báo n n n hối cải. Các bị cáo đều có nhân thân tốt nhất thời phạm tội, do đó không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo cũng đủ sức r n đe giáo dục. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, sửa nội dung của bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với các bị cáo cụ thể:
Xử phạt:
Bị cáo Võ Thị Cẩm L số tiền t 30.000.000 đồng đến 35.000.000. đồng;
Bị cáo Vương Thị Phương T số tiền t 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng;
Bị cáo Hoàng Thị Tường V số tiền t 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng;
Bị cáo Phạm Thị Hồng N số tiền t 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng;
Bị cáo Huỳnh Thị T số tiền t 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.
Trong lời nói sau cùng các bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hư ng án treo để các bị cáo có cơ hội ch m sóc gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ s nội dung vụ án c n cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về th tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra và tại phiên tòa như cấp sơ thẩm nhận định là đúng.
Về nội dung:
Tại phiên tòa, các bị cáo Võ Thị Cẩm L, Vương Thị Phương T, Hoàng Thị Tường V, Phạm Thị Hồng N, Huỳnh Thị T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nhận định của tòa án cấp sơ thẩm. Lời khai của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang lời khai người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ s kết luận: Khoảng 14 giờ đến 15 giờ ngày 14/11/2018 tại khu vực đất trống gần tiệm tạp hóa của bà Quách Thị Mai A thuộc tổ 2 khu phố 7 thị trấn V huyện P tỉnh Bình Dương các bị cáo Võ Thị Cẩm L, Vương Thị Phương T, Hoàng Thị Tường V, Phạm Thị Hồng N, Huỳnh Thị T và một số đối tượng khác (không rõ nhân thân lai lịch) cùng nhau đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức bài cào. Tổng số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc là 14.550.000 đồng. Với hành vi nêu trên Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự n m 2015 (sửa đổi bổ sung n m 2017) là đúng người đúng quy định của pháp luật.
[2.2 ] Xét kháng cáo của các bị cáo:
Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo tham gia đánh bạc với số tiền như sau: Võ Thị Cẩm L sử dụng số tiền 7.000.000 đồng, Vương Thị Phương T sử dụng số tiền 1.500.000 đồng Phạm Thị Hồng N sử dụng số tiền 500.000 đồng Huỳnh Thị T sử dụng số tiền 400.000 đồng, Hoàng Thị Tường V sử dụng số tiền 200.000 để đánh bạc. Sau khi phạm tội các bị cáo thành khẩn khai báo n n n hối cải các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Ngoài ra các bị cáo đều có nhân thân tốt có nơi cư trú rõ ràng ngoài lần phạm tội này các bị cáo luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật của nhà nước. Do đó không cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo cũng đủ sức r n đe giáo dục đối với các bị cáo, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội đã biết n n n hối cải.
T những phân tích trên xét thấy có cơ s chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2019/HS-ST ngày 29/5/2019 của Toà án nhân dân huyện P tỉnh Bình Dương về phần hình phạt đối với các bị cáo Võ Thị Cẩm L, Vương Thị Phương T, Hoàng Thị Tường V, Phạm Thị Hồng N và Huỳnh Thị T.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về việc giải quyết vụ án là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Võ Thị Cẩm L, Vương Thị Phương T, Hoàng Thị Tường V, Phạm Thị Hồng N và Huỳnh Thị T không phải nộp.
Vì c c lẽ tr n;
QUYẾT ĐỊNH:
C n cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;
1. Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Võ Thị Cẩm L, Vương Thị Phương T, Hoàng Thị Tường V, Phạm Thị Hồng N và Huỳnh Thị T; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2019/HS-ST ngày 29/5/2019 của Toà án nhân dân huyện Phú Giáo tỉnh Bình Dương về phần hình phạt.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Điều 35 Bộ luật Hình sự n m 2015 (sửa đổi bổ sung n m 2017) xử phạt:
- Bị cáo Võ Thị Cẩm L số tiền 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng về tội “Đánh bạc”.
- Bị cáo Vương Thị Phương T số tiền 25.000.000 (hai mươi l m triệu) đồng về tội “Đánh bạc”.
- Bị cáo Phạm Thị Hồng N số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng về tội “Đánh bạc”.
- Bị cáo Huỳnh Thị T số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng về tội “Đánh bạc”.
- Bị cáo Hoàng Thị Tường V số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng về tội “Đánh bạc”.
2. Án phí phúc thẩm: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Các bị cáo Võ Thị Cẩm L, Vương Thị Phương T, Hoàng Thị Tường V, Phạm Thị Hồng N và Huỳnh Thị T không phải nộp.
3. Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể t ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể t ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Dương; 1 - TAND huyện P; 2 - VKSND huyện P ; 1 - Chi cục THADS huyện P ; 1 - Phòng PV06 - Công an tỉnh BD; 1 - Công an huyện P ; 1 - S Tư pháp tỉnh Bình Dương; 1 1 - Bị cáo; - Lưu: Tổ HCTP HSVA Tòa HS. 3 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Sang |