- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hữu Đ bị xét xử về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
- Tòa quyết gì? [1].Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu Đ phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự n¨m; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 134/2018/HSST Ngày: 07/05/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH - TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Hữu Thái
- Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thanh Hùng
2. Bà Trần Thị Như Hoa
- Thư ký phiên toà: bà Nguyễn Thị Mai An - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vinh - tỉnh Nghệ An.
- Đại diện VKSND thành phố Vinh tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Huệ - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 05 năm 2018; tại: Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 132/2018/HSST ngày 17 tháng 04 năm 2018. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 183/2018/QĐXXST - HS ngày 26 tháng 04 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Hữu Đ; tên gọi khác: không; sinh năm 1995; nơi ĐKNKTT: khối P, phường V, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu V (đã chết) và bà Nguyễn Thị H , sinh năm 1965; anh chị em ruột: có 2 người, bị cáo là con đầu; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Nghệ An từ ngày 13/01/2018 cho đến nay, có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 11/01/2018, Nguyễn Hữu Đ đi đến khách sạn Yến Nhi 2, thuộc phường Hưng Bình, thành phố Vinh để thăm một người bạn tên Tuấn quê ở Thanh Hóa đang ở khách sạn (Đ không biết lai lịch, địa chỉ cụ thể và không nhớ rõ số phòng Tuấn đã thuê) và được Tuấn cho một gói ma túy dạng đá để sử dụng. Sau khi được cho gói ma túy đá, Đ bỏ vào quần lót của mình cất dấu với mục đích đem về sử dụng rồi đi về nhà. Đến khoảng 1 giờ ngày 13/01/2018, Đ đi tắc xy đến ngõ số 4, đường Nguyễn Kiệm thuộc khối 8, phường Trường Thi, thành phố Vinh để trả tiền nợ cho một người tên Đ, khi vừa xuống xe tắc xy thì bị tổ công tác công an phường Trường Thi, thành phố Vinh kiểm tra phát hiện thu giữ trong quần lót bên trái của Đức đang mặc 01 bao potylen màu trắng, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng. Người cùng tang vật được đưa về trụ sở Công an phường Trường Thi, thành phố Vinh lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tại cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Vinh Nguyễn Hữu Đ đã khai nhận đầy đủ hành vi phạm tội của mình.
Tại Kết luận giám định số 218/KL-PC 54 (MT) ngày 13/01/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: “Mẫu chất kết tinh màu trắng ghi thu của Nguyễn Hữu Đ gửi tới giám định là ma túy tổng hợp (Methamphetamine) có trọng lượng là 0,300 gam”.
Tại Bản cáo trạng số 165/VKS-HS ngày 17/04/2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh đã truy tố Nguyễn Hữu Đ về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh giữ quyền công tố tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù.
Ngoài ra, còn đề nghị miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và xử lý vật chứng là: Áp dụng Điểm a Khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015 :Tịch thu tiêu hủy số ma túy (hê rô in) thu giữ từ Nguyễn Hữu Đ.
Tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã quy kết và không tranh luận gì mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Vinh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về nội dung:
. Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Nguyễn Hữu Đ khai nhận như sau: Hồi 01 giờ 40 phút ngày 13/01/2018, tại khu vực ngõ 4, đường Nguyễn Kiệm, thuộc khối 8, phường Trường Thi, thành phố Vinh. Nguyễn Hữu Đ đang cất giữ trái phép 01 gói ma túy tổng hợp (Methamphetamine), có khối lượng 0,300 gam để sử dụng thì bị Tổ công tác công an phường Trường Thi, thành phố Vinh phát hiện bắt quả tang.
Như vậy, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra; Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án.
Vì vậy, có đầy đủ cơ sở để khẳng định: Hành vi cất giữ cất giữ trái phép 01 gói ma túy tổng hợp (Methamphetamine), có khối lượng 0,300 gam để sử dụng của Nguyễn Hữu Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh truy tố bị cáo theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
. Đây là vụ án thuộc loại nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến chính sách quản lý độc quyền của nhà nước đối với các chất gây nghiện như heroin. Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, Đảng và nhà nước đang kiên quyết đấu tranh nhằm đẩy lùi tệ nạn ma túy ra khỏi cộng đồng xã hội. Bản thân bị cáo nhận thức được ma túy là chất độc hại, Nhà nước cấm mua bán, tàng trữ, sử dụng, vận chuyển nhưng vẫn liều lĩnh thực hiện hành vi phạm tội, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Vì vậy, cần phải xét xử nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ để giáo dục riêng cũng như phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, xét thấy quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải nên cần áp dụng điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.
. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại Khoản 5 Điều 249 BLHS thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đ đến 500.000.000 đồng nhưng xét thấy bị cáo hiện nay không có công ăn việc làm ổn định, tài sản riêng không có gì nên miễn cho bị cáo.
. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 gói ma túy tổng hợp (Methamphetamine), có khối lượng 0,300 gam là vật chứng vụ án cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
[1].Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu Đ phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hữu Đ: 15 (mười lăm) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 13/01/2018.
[2]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự n¨m 2015; Tịch thu tiêu hủy: Một phong bì thư niêm phong dán kín thu giữ vật chứng của Nguyễn Hữu Đ.
(Vật chứng này hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vinh theo Phiếu nhập kho số NK850 ngày 17/04/2018).
[3]. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Hữu Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[4]. Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |