- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vì Văn N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH SƠN LA Bản án số: 134 /2018/HSST Ngày: 26 /9/2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ,TỈNH SƠN LA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Dương Ngọc Tam.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vì Văn Đôi;
Ông Lò Văn Viễn.
Thư ký phiên toà: Ông Bùi Quang Hùng - thư ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên toà: Ông Dương Văn Nam – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La; xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 131/2018/HSST ngày 10 tháng 8 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 138/2018/QĐXXST-HS ngày 14/9/2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vì Văn N, sinh ngày 03 tháng 5 năm 1969; giới tính: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu: Bản P, xã HM, huyện SM, tỉnh Sơn La, nghề nghiệp: Trồng Trọt; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; chức vụ, Đảng phái: Không; con ông: Vì Văn T; con bà: Quàng Thị L; vợ: Lèo Thị L; có 02 người con; tiền án: không có; tiền sự: Không có; bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La từ ngày 8/5/2018 cho đến nay, có mặt tại phiên toà.
Về nhân thân: Năm 2013 bị Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong bản án ngày 21/4/2015, năm 2012 đi cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm Giáo dục lao động tỉnh Sơn La 24 tháng.
NỘI DỤNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 07 tháng 5 năm 2018 Vì Văn N dùng xe máy của gia đình đi đến bản Co Mạ , xã Huổi Một, Sông Mã để tìm việc làm, đến bản có gặp một người thanh niên không quen biết, nhờ trở đến bản Nà Nghịu 2, và được trả công bằng 01 gói Heroine, N cất dấu trong túi áo ngực. Đến 06 giờ ngày 8 tháng 5 năm 2018 Công an xã và Công an huyện đến nhà để rà soát các đối tượng nghiện, bị cáo đã nộp 01 gói giấy nilon màu xanh bên trong có chất bột màu trắng nghi là Heroine.
Ngày 09/5/2018 tại phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn la cân tịnh gói bột màu trắng có khối lượng 0,29 gam, đã trích hết làm mẫu giám định ký hiệu T.
Tại bản kết luận giám định số 583/KLMT ngày 14/5/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: "Mẫu gửi giám định ký hiệu T là chất ma túy, loại chất Heroine; Khối lượng của mẫu giám định là 0,29gam".
Tại bản cáo trạng số 94/CT-VKSSM ngày 10 tháng 8 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La truy tố bị cáo, Vì Văn N về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự
Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, có đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Vì Văn N từ 16 tháng đến 20 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo;
Xử lý vật chứng theo Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Về nguồn gốc chất ma túy, bị cáo khai mua của một người dân Mông không rõ danh tính, nên cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý trong vụ án.
Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà; trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÓA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1]Về tính hợp pháp của các hành vi; quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Sông Mã, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]Về chứng cứ xác định tội danh: Tại phiên toà bị cáo N khai nhận ngày 08 tháng 5 năm 2018 đã cất giấu 01 gói Heroine khối lượng là 0,29 gam đã bị Công an huyện Sông Mã phát hiện bắt quả tang thu giữ số ma túy trên và bị tạm giam đến nay; Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 06 giờ 05 phút ngày 08/5/2018; Biên bản cân tịnh vật chứng, kết luận giám định số 583/KL- MT ngày 14/5/2018 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, vật chứng của vụ án.
Từ những căn cứ nêu trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Vì Văn N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
[3] Xét về tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm đến chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây ảnh hưởng tới trật tự trị an trên địa bàn, bị cáo là người có đủ năng lực pháp luật, nhận thức được Tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, nhằm răn đe giáo dục và để phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội tại cơ quan Điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tại hồ sơ và tại phiên tòa xác định được gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, là lao động chính trong gia đình, bị cáo có 01 tiền án, có 01 tiền sự nhưng đã được xóa án tích, nên được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Với các căn cứ nêu trên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ đúng với quy định của pháp luật.
[5] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính lẽ ra bị cáo phải bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định; xét thấy gia đình bị cáo không có điều kiện về kinh tế, nên không áp dụng phạt tiền
[6]Về vật chứng:
Vật chứng còn lại của vụ án là 01 mảnh ni lon màu xanh, 01 vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
[7]Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự Điều 21, 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Vì Văn N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
1.Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt Vì Văn N 16 (mười sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/5/2018.
Không áp dụng phạt tiền đối với bị cáo.
2. Vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu 01 phong bì thư niêm phong ghi: Vật chứng vụ Vì Văn N, sinh năm 1969 ở bản P, HM, SM , Sơn La. Hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Gồm: 01(một) mảnh nilon màu xanh; 01(Một) phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu, trên đoạn giấy dán niêm phong có dòng chữ " Cơ quan CSĐT-Công an huyện Sông Mã ngày 09/5/2018" và chữ ký của thành phần tham gia niêm phong cùng 02 hình dấu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Mã, Sơn La, đóng trên mép giấy trắng giáp lai.
Toàn bộ vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 23 tháng 7 năm 2018, giữa Chi cục thi hành án dân sự huyện Sông Mã và Công an huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.
3.Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 21, 23 Nghị quyết 326/2016 /UBTVQH14 buộc bị cáo Vì Văn N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (26/9/2018).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKS cùng cấp; - Công an cùng cấp; - Thi hành HS; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dƣơng Ngọc Tam |