vanban.org

Bản án 134/2018/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 14/08/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 05/01/2018. Tịch thu và tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Văn C và hình dấu Công an Phường 16, quận Gò Vấp qua giám định là mephamphetamine. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn C - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 134/2018/HS-ST
Ngày: 14 - 8 -2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Ngọc Hải.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Duyên

Bà Lê Thị Thanh Hồng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Châu Ly – Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy An- Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2018 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 133/2018/TLST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 146/2018/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn C, sinh năm: 1991, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: số 51/568A đường L, Phường B, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Thái Thị X; Chưa có vợ; tiền án: không; tiền sự: Ngày 04/4/2016, Tòa án nhân dân quận Gò Vấp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 01 năm 3 tháng;

: 05/01/2018; (Có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1984; trú tại: 184/11 đường L, Phường H, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 15 giờ ngày 05/1/2018, Nguyễn Văn C đang ở nhà thì có 01 thanh niên tên Việt (không rõ lai lịch) gọi điện thoại cho C nhờ C đến Phạm Văn Chiêu đón và chở Việt đến đường Tân Sơn. C đồng ý và điều khiển xe biển số 54Z1-8849 đến gặp Việt lúc này Việt treo lên xe của C 01 khẩu trang. C chở Việt đến đường Tân Sơn Việt xuống và kêu C về trên đường về thì Việt gọi điện thoại cho C nhờ giữ giùm bịch ma túy của Việt đang để trong khẩu trang và nói với C khi nào có người mua thì bán giúp C đồng ý. Khi C chạy xe đến số nhà 154 đường số 2, Phường 16 thì bị Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy kiểm tra phát hiện tiến hành thu giữ và lập biên bản phạm tội quả tang.

Tại Cơ quan điều tra C đã khai nhận hành vi phạm tội và còn thừa nhận đã giúp Việt bán ma túy được 02 lần và được Việt trả công bằng cách cho C sử dụng ma túy. Tuy nhiên không có căn cứ để xử lý đối với C.

Tại bản kết luận giám định số 269/KLGĐ-H ngày 12/01/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

- Tinh thể không màu trong 01 gói nylon là ma túy ở thể rắn có khối lượng 9,9523 gram là loại methamphetamine.

Vật chứng thu giữ gồm:

- 01 gói nylon chứa tinh thể rắn không màu đã được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Văn C và hình dấu Công an Phường 16, quận Gò Vấp.

- số tiền 1.000.000 đồng

- 01 điện thoại hiệu Mobell có số sim 0906191547 và 0169999851 (là phương tiện C dùng để liên lạc bán ma túy).

- 01 điện thoại Oppo số sim 0927369522 Cường khai của 01 người bạn tên Thúy (không rõ lai lịch) đưa C giữ giùm.

- 01 xe gắn máy biển số 54Z1-8849 số máy 5C63118474, số khung RLCS5C6308Y118474. Qua xác minh biển số xe 54Z1-8849 là xe có số khung Y032606, số máy C12E-0548045 (không trùng với xe đang bị tạm giữ) và do chị Nguyễn Thị N đứng tên, xác minh tại Công an phường thì chị N không có mặt tại địa phương nên chưa tiến hành lấy lời khai được.

Tại bản kết luận giám định số: 4434/KLGĐ-X(Đ6) ngày 11/5/2018 kết luận xe có số khung và số máy nguyên thủy không đổi, xác minh tại đội CSGT Công an quận Gò Vấp không nằm trong dữ liệu quản lý. Cơ quan điều tra đã cho tiến hành đăng báo tìm chủ sỡ hữu chiếc xe máy và chiếc điện thoại Oppo nhưng đến nay không có ai đến liên hệ nhận lại.

Đối với người thanh niên tên Việt giao ma túy cho Cường Cơ quan điều tra chưa xác minh được lai lịch, khi nào xác định được xử lý sau.

Tại bản cáo trạng số 140/CTr-VKS, ngày 17/7/2018 Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố Nguyễn Văn C về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà hôm nay, Đại diện viện kiểm sát sau khi luận tội và đưa ra quan điểm xét xử đã đề nghị: Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017;

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 07 năm đến 07 năm 6 tháng tù.

- Miễn phạt bổ sung cho bị cáo.

Áp dụng Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung 2017 và khoản 1, điểm a,c khoản 2, khỏan 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

- Tịch thu và tiêu hủy lượng ma túy thu giữ.

- Tịch thu sung quỹ xe gắn máy biển số 59V2-790.25 và 01 điện thoại hiệu Mobell có số sim 0906191547 và 0169999851

- Trả lại cho bị cáo 1.000.000 đồng và chiếc điện thoại di động Oppo số sim 0927369522.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận và trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với bản kết luận điều tra của Công an quận Gò Vấp, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, biên bản phạm pháp quả tang và tang vật thu giữ, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát trong quá trình Điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.

Đối chiếu với các Điều luật tương ứng do Bộ luật Hình sự quy định. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng hành vi của Nguyễn Văn C đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt trừng trị được quy định tại Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, đã xâm phạm đến sự quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, đã xâm phạm và làm ảnh hưởng đến chính sách quản lý kinh tế, an ninh quốc gia, gây mất trật tự trị an xã hội.

Mặc dù bị cáo nhận thức được việc tàng trữ, sử dụng, mua bán ... trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm và nếu vi phạm sẽ bị trừng trị nghiêm khắc, nhưng bị cáo vẫn ngang nhiên tàng trữ trái phép chất ma tuý để bán, bất chấp những quy định của pháp luật, bất chấp mọi hậu quả xảy ra kể cả việc trừng trị của pháp luật.Hành vi của bị cáo đã tiếp tay duy trì sự mất ổn định trật tự xã hội, duy trì và tạo điều kiện cho các tệ nạn xã hội phát triển làm ảnh hưởng đến việc giảm sút sức lao động trong toàn xã hội…Xét nhân thân bị cáo đã từng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc mà vẫn chưa từ bỏ được con đường nghiện ngập. Do đó, cần thiết phải có mức hình phạt thật nghiêm khắc đối với bị cáo và cần thiết phải có một khoảng thời gian dài cách ly bị cáo ra khỏi xã hội nhằm tạo điều kiện cho bị cáo từ bỏ con đường nghiện ngập và tiếp tục học tập phấn đấu trở thành người tốt hơn sau này biết tôn trọng pháp luật đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung. Do bị cáo mua bán trái phép chất ma túy với khối lượng trên 5 gram nên Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp truy tố bị cáo theo điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung 2017 là có cơ sở.

Tuy nhiên khi lượng hình cần xem xét các tình tiết, tại Cơ quan điều tra cũng như qua diễn biến phiên toà hôm nay bị cáo đã thật thà khai báo thành khẩn nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải, gia đình bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung 2017, Hội đồng xét tính chất vụ án bị cáo chỉ thực hiện hành vi bán giùm ma túy cho đối tượng tên Việt không thu lợi gì từ việc bán ma túy mà chỉ được Việt cho sử dụng ma túy để trả công và hoàn cảnh của bị cáo nên quyết định miễn phạt cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với chất tinh thể rắn không màu trong 01 gói nylon là ma túy ở thể rắn có khối lượng 9,9523 gram là loại methamphetamine là vật nhà nước cấm lưu hành và sử dụng Hội đồng xét xử quyết định tịch thu và tiêu hủy.

- Đối với 01 chiếc điện thoại di động điện thoại hiệu Mobell có số sim 0906191547 và 0169999851 là phương tiện bị cáo dùng để liên lạc bán ma túy, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu sung quỹ nhà nước.

- Đối với điện thoại Oppo số sim 0927369522 C khai của 01 người bạn tên Thúy (không rõ lai lịch) đưa C giữ giùm và 01 xe gắn máy biển số 54Z1-8849 số máy 5C63118474, số khung RLCS5C6308Y118474. Qua xác minh biển số xe 54Z1-8849 là xe có số khung Y032606, số máy C12E-0548045 (không trùng với xe đang tạm giữ) và do chị Nguyễn Thị N đứng tên, xác minh tại Công an phường chị N không có mặt tại địa phương nên chưa lấy lời khai được.

Tại bản kết luận giám định số: 4434/KLGĐ-X(Đ6) ngày 11/5/2018 kết luận xe có số khung và số máy nguyên thủy không đổi, xác minh tại đội CSGT Công an quận Gò Vấp không nằm trong dữ liệu quản lý. Cơ quan điều tra đã cho tiến hành đăng báo tìm chủ sỡ hữu chiếc xe máy và chiếc điện thoại Oppo nhưng đến nay không có ai đến liên hệ nhận lại. Hội đồng xét xử nhận thấy đã quá thời hạn quy định của pháp luật về việc đăng trên thông tin đại chúng nên quyết định tịch thu sung quỹ nhà nước.

- Đối với số tiền 1.000.000 đồng là tư vật của bị cáo, Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho bị cáo.

Đối với đối tượng tên Việt đưa ma túy cho C Cơ quan điều tra chưa xác định được lai lịch, khi nào có kết quả sẽ xử lý sau.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;

Căn cứ điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 05/01/2018.

Căn cứ Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung 2017 và khoản 1, điểm a,c khoản 2, khỏan 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

- Tịch thu và tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Văn C và hình dấu Công an Phường 16, quận Gò Vấp qua giám định là mephamphetamine.

- Tịch thu sung quỹ nhà nước chiếc xe gắn máy biển số 54Z1-8849 (số giả) số máy 5C63118474, số khung RLCS5C6308Y118474, chiếc điện thoại di động điện thoại hiệu Mobell có số sim 0906191547 và 01699999851, chiếc điện thoại Oppo có số sim 0927369522 và 01264638476.

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn C 1.000.000 (một triệu) đồng tiền ngân hàng nhà nước Việt nam.

(Theo phiếu nhập kho vật chứng số 150/PNK, ngày 02/7/2018 của Công an quận Gò Vấp).

Áp dụng khỏan 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí và Lệ phí, Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày được tính kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết.

Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ