vanban.org

Bản án 134/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thanh Trì, TP. Hà Nội Tuyên án 31/08/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành C phạm tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy».

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành C 12 (mười hai) tháng tù.Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án (được trừ thời gian đã tạm giữ từ ngày 18/4/2018 đến ngày 24/4/2018). Về áp dụng biện pháp tƣ pháp, xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thành C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành C phạm tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy».
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH TRÌ
TP. HÀ NỘI
--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 134/2018/HS - ST
Ngày: 31/8/2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài Các Hội thẩm nhân dân :

1. Ông Nguyễn Anh Đức

2. Ông Huỳnh Quốc Bình

Thư ký phiên tòa:

Bà Đoàn Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án

nhân dânhuyện Thanh Trì, TP Hà Nội Đại diện VKSND huyện Thanh Trì - TP Hà Nội tham gia phiên tòa:

Bà Tô Thu Thủy - Kiểm sát viên

Ngày 31 tháng 8năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Trì - thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 129/2018/HS-ST ngày 06/8/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 129/2018/QĐXXST - HS ngày 20/8/2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Thành C, sinh năm 1979; HKTT + Chỗ ở hiện nay: Số nhà X, ngõ Y, đường B, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Tác T và bà Lê Thị Nt; có vợ là Phùng Thị C và 02 con (lớn sinh năn 2005, nhỏ sinh năm 2008); Tiền án, tiền sự: không (danh chỉ bản số 0212 lập ngày 19/4/2018 tại Công an huyện Thanh Trì; Bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 18/4/2018 đến ngày 24/4/2018. Hiện đang áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).

IỘNNÁ ỤV GNUD

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18h00' ngày 18/4/2018, tổ công tác Đồn công an Cầu Bươu - Công an huyện Thanh Trì làm nhiệm vụtuần tra kiểm soát tại khu vực đường B, Thôn X, xã T2, huyện T, Hà Nội đã kiểm tra hành chính đối với Nguyễn Thành C và phát hiện C có thả 01 gói giấy bên trong có chất bột màu trắng từ trong lòng bàn tay trái xuống đất. Tại chỗ, C khai gói chất bột màu trắng là heroine, C mua về để sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ tang vật và 01 tạm giữ của C 01 chiếc xe máy Dream màu nâu BKS 33P8 - 4424.

Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện Thanh Trì đã trưng cầu giám định đối với chất bột màu trắng đã thu giữ của Nguyễn Thành C. Tại bản Kết luận giám định số 3729/KLGĐ - PC54 ngày 26/4/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: Chất bột màu trắng bên trong gói nilon là ma túy loại heroine, có khối lượng 0,136gam. Cơ quan giám định đã sử dụng hết 0,014 gam, hoàn trả cho Công an huyện Thanh Trì 0,122 gam heroine.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Thành C khai nhận: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày18/4/2018, C đi xe máy nhãn hiệu Dream, BKS 33P8 - 4424 đến khu vực bệnh viện A thuộc thôn X, xã T2, huyện T, Hà Nội mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy với giá 200.000đồng. C cầm gói ma túy ở lòng bàn tay trái để tìm nơi sử dụng thì bị tổ công tác Đồn Công an Cầu Bươu - Công an huyện Thanh Trì kiểm tra hành chính. Do sợ hãi nên bị cáo đã thả gói ma túy xuống đất và bị bắt giữ, thu giữ tang vật.

Đối với người đànông bán ma túy cho C, C khai không biết tên, tuổi, địa chỉ, không nhận dạng được người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xác minh làm rõ.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Dream BKS 33P8 - 4424 đã tạm giữ của C, qua xác minh đã xác định được chủ sở hữu là ông Nguyễn Tác T. Ông T không biết C dùng xe để đi mua ma túy nên Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Thanh Trì đã trao trả chiếc xe máy nêu trên cho ông T.

Bản cáo trạng số 122/CT - VKSTT ngày 02/8/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì đã truy tố bị cáo Nguyễn Thành C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên toà:

* Bị cáo Nguyễn Thành C thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nêu trên, thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì truy tố bị cáo là đúng. Khi được nói lời sau cùng bị cáo đã thể hiện thái độ ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử :

- Áp dụng khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt Bị cáo Nguyễn Thành C từ 12 - 18 tháng tù.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thanh Trì, Điều tra Viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh của bị cáo: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định có đủ cơ sở xác định: Khoảng 18giờ00' ngày 18/4/2018, tại đường B, Thôn X, xã T2, huyện T, Hà Nội, Nguyễn Thành C đã có hành vi cất giấu 0,136gam ma túy loại heroine ở lòng bàn tay trái để sử dụng thì bị Tổ công tác Đồn công an Cầu Bươu - Công an huyện Thanh Trì bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì truy tố bị cáo ra trước Tòa án để xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ pháp lý.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm sự độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma túy . Ma túy là chất gây nghiện huỷ hoại sức khoẻ con người, làm sói mòn đạo đức xã hội và là nguyên nhân gây ra các tội phạm hình sự khác, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội. Do đó, cần thiết phải xử lý bằng pháp luật hình sự và cách ly bị cáora khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo bị cáo và giáo dục phòng ngừa chung cho mọi người.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

- Tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.

Về nhân thân bị cáo: Bị cáo không có tiền án tiền sự.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015: «Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng » . Xét bị cáo là đối tượng nghiện hút, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định và để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu hủy 0,122 gam heroine (trọng lượng còn lại sau giám định) hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng Công an huyện Thanh Trì.

Đối với người thanh niên bán ma túy cho C do Cô không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, không nhận dạng được người này, Cơ quan điều tra không đủ căn cứ xác minh làm rõ nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Dream BKS 33P8 - 4424 đã tạm giữ của C, qua xác minh đã xác định được là của ông Nguyễn Tác T. Ông T không biết C dùng xe để đi mua ma túy nên Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Thanh Trì đã trao trả chiếc xe máy nêu trên cho ông T. Ông T đã nhận lại xe, không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo các điều 134, 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của UBTV Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được kháng cáo bản án theo Điều 331, 334 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành C phạm tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy».

2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành C 12 (mười hai) tháng tù.Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án (được trừ thời gian đã tạm giữ từ ngày 18/4/2018 đến ngày 24/4/2018).

3. Về áp dụng biện pháp tƣ pháp, xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy 0,122gam heroine (trọng lượng còn lại sau khi giám định) thu giữ của bị cáo hiện đang lưu giữ tại kho tang vật Công an huyện Thanh Trì, Hà Nội.

4. Về án phí: Căn cứ các điều 134, 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự ; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ