vanban.org

Bản án 134/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đức Hòa, tỉnh Long An Tuyên án 30/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Minh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Minh H 1 (một) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/9/2018. Về tang vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Minh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LONG AN
Bản án số: 134/2018/HS-ST
Ngày: 30 - 11 - 2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Thảnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lý Thị Ngọc Mai.

Bà Trần Thị Đổi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Huỳnh Như – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thanh Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 134/2018/TLST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 128/2018/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo:

Lê Minh H (L), sinh năm 1999, tại Long An; Nơi thường trú: Ấp R, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông Lê Văn M và bà Mai Thị G; bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/9/2018 đến nay (có mặt).

- Người tham gia tố tụng khác:

+ Người làm chứng: Trần Quốc T (vắng mặt); Lâm Vĩnh H (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 11/9/2018, bị cáo Lê Minh H đón xe buýt từ thị trấn H đi đến cầu Tham Lương, quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh gặp một thanh niên tên B (không rõ lai lịch) mua của B một bịch ma túy đá với giá 700.000 đồng. Sau đó, bị cáo H đem về nhà tại ấp R, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An chia nhỏ thành 7 bịch nylon hàn kín. Bị cáo H lấy 01 bịch nhỏ bỏ vào nỏ để sử dụng, còn lại 6 bịch H giấu vào gói thuốc lá Jet để trong túi quần. Đến 23 giờ cùng ngày, bị cáo H đi bộ đến cây xăng thuộc ấp S, thị trấn H thì bị lực lượng công an kiểm tra, phát hiện 06 bịch nylon hàn kín hai đầu bên trong chứa tinh thể màu trắng trong túi quần của bị cáo H.

Tang vật tạm giữ gồm:

- 06 bịch nylon hàn kín hai đầu bên trong chứa tinh thể màu trắng.

- 01 nỏ thủy tinh sử dụng ma túy;

- 01 điện thoại di động hiệu Nokia loại 1280, sim số 01669396787;

- Số tiền 800.000 đồng.

Tại bản kết luận giám định số 3806/C09B ngày 12/9/2018 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh – Tổng cục cảnh sát kết luận: Tinh thể màu trắng đựng trong 06 gói nylon được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có tổng khối lượng: 0.6978 gam, loại Methamphetamine. Phân viện khoa học hình sự thành phố Hồ Chí Minh – Tổng cục cảnh sát, Bộ công an hoàn lại đối tượng gửi giám định: Mẫu vật còn lại sau giám định có trọng lượng tinh thể màu trắng: 0.6705 gam được niêm phong.

Tại bản cáo trạng số 135/CT-VKSĐH ngày 15 tháng 11 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An truy tố bị cáo Lê Minh H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tại phiên toà, Kiểm sát viên sau khi phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm xã hội của hành vi vi phạm pháp luật mà bị cáo Lê Minh H gây ra; đồng thời căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); tuyên bố bị cáo Lê Minh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo Lê Minh H mức hình phạt từ 18 tháng đến 24 tháng tù.

Đồng thời đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, về tang vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong trọng lượng 0.6705 gam của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh – Tổng cục cảnh sát, Bộ công an; 01 dụng cụ để sử dụng ma túy đá.

- Trả lại cho bị cáo Lê Minh H: 01 điện thoại di động hiệu Nokia loại 1280, sim số 01669396787; số tiền 800.000 đồng.

Đối với người thanh niên tên B là người bán ma túy cho bị cáo H, do không xác định được nhân thân lai lịch, chỉ qua lời khai của bị cáo, không cơ sở khởi tố xử lý nên đề nghị không xem xét.

Tại phiên tòa bị cáo Lê Minh H hoàn toàn nhìn nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa truy tố, không đưa ra chứng cứ nào minh oan chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đức Hòa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc kH nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, vắng mặt những người làm chứng nhưng những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

. Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Minh H trước Tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang vào lúc 23 giờ 00 phút ngày 11 tháng 9 năm 2018, phù hợp với lời khai của người làm chứng cùng với bản kết luận giám định số 3806/C09B ngày 12/9/2018 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh -Tổng cục Cảnh sát, Bộ Công an và phù hợp với nội dung bản cáo trạng. Thấy rằng, bị cáo Lê Minh H là người nghiện ma túy, để có chất ma túy sử dụng, bị cáo H đã mua của một thanh niên tên B (không rõ lai lịch) một gói ma túy đá với số tiền 700.000 đồng, sau đó bị cáo H chia nhỏ thành 7 bịch nhỏ, bị cáo sử dụng 1 bịch, còn lại 6 bịch bị cáo cất giữ vào gói thuốc lá và để trong túi quần. Đến 23 giờ ngày 11/9/2018, tại cây xăng thuộc ấp S, thị trấn H, bị cáo Lê Minh H bị lực lượng Công an huyện Đức Hòa phát hiện bắt quả tang. Kết quả giám định 06 gói nylon thu giữ của bị cáo H là ma túy, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng: 0.6978 gam.

Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận bị cáo Lê Minh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố bị cáo Lê Minh H với tội danh và điều luật trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

. Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội. Hành vi này đã xâm hại trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây thiệt hại lớn về kinh tế, gây tổn hại sức khỏe con người, làm suy thoái nòi giống, gây mất trật tự xã hội.

Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hậu quả nghiêm trọng của ma túy đối với xã hội và bản thân bị cáo. Bị cáo biết rõ ma túy là một trong những nguyên nhân của nhiều tội phạm khác, nhiều căn bệnh hiểm nghèo, bị nghiêm cấm vận chuyển, mua bán, tàng trữ dưới bất kỳ hình thức nào nhưng để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy, bị cáo vẫn bất chấp pháp luật thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo cần được xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự, do đó cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

. Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo H phạm tội không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) nên khi áp dụng hình phạt cho bị cáo có xem xét giảm nhẹ một phần.

Từ phân tích [3] và [4], xét theo lời đề nghị của Kiểm sát viên về áp dụng hình phạt tù có thời hạn và mức hình phạt đối với bị cáo Lê Minh H là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

. Về tang vật chứng:

Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

- Đối với 01 gói niêm phong trọng lượng 0.6705 gam của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh – Tổng cục cảnh sát, Bộ công an hoàn lại sau giám định và 01 dụng cụ để sử dụng ma túy đá cần tịch thu tiêu hủy;

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia loại 1280, sim số 01669396787; số tiền 800.000 đồng; đây là tài sản của bị cáo H, không liên quan đến hành vi phạm tội nên xem xét trả lại cho bị cáo là phù hợp.

. Đối với người thanh niên tên B là người bán ma túy cho bị cáo H, do không xác định được nhân thân lai lịch, chỉ qua lời khai của bị cáo, không cơ sở khởi tố xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);

Tuyên bố bị cáo Lê Minh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Minh H 1 (một) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/9/2018.

Áp dụng khoản 1 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tiếp tục tạm giam bị cáo Lê Minh H 45 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 30/11/2018) để đảm bảo cho việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.

Về tang vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong trọng lượng 0.6705 gram của Viện khoa học hình sự - Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh trả lại sau giám định và 01 dụng cụ để sử dụng ma túy

- Trả lại cho bị cáo Lê Minh H: 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xám loại 1280, sim số 01669396787 và số tiền 800.000 đồng.

Tang vật trên do Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 22-19/11/2018 ngày 19 tháng 11 năm 2018 và Biên lai thu tiền số 0001725 ngày 16/11/2018.

Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án buộc bị cáo Lê Minh H nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung vào công quỹ Nhà nước.

Án này là sơ thẩm, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ