- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn H - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HẢI DƢƠNG TỈNH HẢI DƢƠNG --------------- Bản án số: 134/2017/HSST Ngày: 07/8/2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƢƠNG - TỈNH HẢI DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trƣơng Thị Tố Uyên
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Liên - Cán bộ nghỉ hƣu
2. Bà Vũ Thị Khuôn - Cán bộ nghỉ hƣu
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Hoàng Phương - Cán bộ Toà án nhân dân thành phố Hải Dƣơng - tỉnh Hải Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương - tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Nhiệm - Kiểm sát viên sơ cấp.
Ngày 07 tháng 8 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Dƣơng, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 129/2017/HSST ngày 13 tháng 7 năm 2017 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Văn H, sinh năm 1976;
Đăng ký hộ khẩu: Số 6/125 N, phƣờng P, thành phố H, tỉnh Hải Dƣơng;
Chỗ ở: Khu 4, phƣờng C, thành phố H, tỉnh Hải Dƣơng;
Quốc tịch: Việt Nam;
Dân tộc: Kinh;
Tôn giáo: Không.
Nghề nghiệp: Lao động tự do;
Trình độ văn hoá: 9/12;
Bố đẻ là ông Lê Văn K, sinh năm 1957; Mẹ đẻ là bà Tƣởng Thị T, sinh năm 1958; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ tên là Nguyễn Thị S, sinh năm 1976 (đã ly hôn năm 1997); Bị cáo có một con sinh năm 1995;
Tiền án, tiền sự: Chƣa;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/5/2017, chuyển tạm giam từ ngày 16/5/2017 đến nay tại Trại tạm giam - Công an tỉnh HD.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NHẬN THẤY:
Lê Văn H bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dƣơng truy tố về hành vi phạm tội nhƣ sau:
Hồi 17h30’ ngày 10/5/2017, tại khu vực đƣờng tàu giao với đƣờng N, thuộc khu 4, phƣờng C, thành phố H, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy (PC47) Công an tỉnh Hải Dƣơng bắt quả tang Lê Văn H đang cất giấu trái phép trong túi quần bên phải đang mặc 03 gói giấy màu trắng bên trong đều chứa các cục chất rắn dạng bột màu trắng, thu giữ trong túi quần bên trái 01 bộ bơm kim tiêm, 01 ống thuốc novocain chƣa sử dụng. Quá trình bắt giữ có sự chứng kiến của chị Nguyễn Thị Q ở khu 4, phƣờng C, thành phố H, tỉnh Hải Dƣơng
Quá trình điều tra Lê Văn H khai nhận: Do nghiện chất ma túy nên khoảng 17h ngày 10/5/2017 Hải đi bộ đến trƣớc cổng Trung tâm phòng chống HIV-AIDS tỉnh Hải Dƣơng (đƣờng Nguyễn Lƣơng B, thành phố H) mua đƣợc 03 gói Heroin với số tiền 300.000đ của một ngƣời phụ nữ (không rõ tên, tuổi, địa chỉ). H cất giấu 03 gói Heroin vào túi quần rồi đi tìm nơi sử dụng, trên đƣờng đi H mua 01 bộ bơm kim tiêm, 01 ống thuốc novocain. Khoảng 17h30’ cùng ngày, khi H đi đến khu vực đƣờng tàu giao với đƣờng N, phƣờng C thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy (PC47) Công an tỉnh Hải Dƣơng phát hiện bắt quả tang, thu giữ 03 gói giấy màu trắng bên trong đều chứa các cục chất rắn dạng bột màu trắng, thu giữ trong túi quần bên trái 01 bộ bơm kim tiêm, 01 ống thuốc novocain chƣa sử dụng trƣớc sự chứng kiến của chị Nguyễn Thị Quy.
Tại bản kết luận giám định số 138/KLGĐ ngày 11/5/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dƣơng, kết luận: Chất bột (dạng cục) màu trắng, ghi thu của Lê Văn H gửi đến giám định có tổng trọng lƣợng là 0,179 gam là Heroin, chất ma túy nằm trong Danh mục I, STT: 20, Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ.
Tại bản cáo trạng số 132/VKS -HS ngày 11/7/2017, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dƣơng truy tố bị cáo Lê Văn H về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của mình nhƣ tại cơ quan điều tra và đề nghị Hội đồng xét xử, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dƣơng giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự; khoản 3 Điều 7; khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015; khoản 1 Điều 3 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc Hội. Xử phạt bị cáo Lê Văn H từ 15 đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 10/5/2017; Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng; Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự, điểm a, đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong số 138/PC54 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dƣơng, bên trong là mẫu vật hoàn lại sau giám định; Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong của Công an phƣờng Cẩm Thƣợng, thành phố Hải Dƣơng bên trong có 01 bơm kim tiêm chƣa sử dụng và 01 ống thuốc Novacain chƣa sử dụng; Về án phí: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã đƣợc thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, ý kiến của bị cáo.
XÉT THẤY
Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của chính bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của ngƣời làm chứng, biên bản phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17h30’ ngày 10/5/2017, tại khu vực đƣờng tàu giao với đƣờng N, thuộc khu 4, phƣờng C, thành phố Hải Dƣơng, tỉnh Hải Dƣơng. Lê Văn H đang cất giấu trái phép 0,179 gam Heroin để sử dụng thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an tỉnh Hải Dƣơng phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức đƣợc ma túy là chất gây nghiện có tác hại lớn không chỉ đến sức khỏe con ngƣời mà nó còn là nguyên nhân gây phát sinh các loại tội phạm khác trong xã hội. Việc bị cáo cất giấu 0,179 gam Heroin trong ngƣời để sử dụng trái phép là vi phạm pháp luật nhƣng vì mục đích thỏa mãn cơn nghiện và ý thức coi thƣờng pháp luật, bị cáo cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo qui định tại khoản 1 Điều 194 BLHS. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dƣơng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm vào chính sách độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nƣớc về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội đƣợc pháp luật bảo vệ. Chất ma tuý hay những chất có tính chất kích thích thần kinh khác đều có tác hại rất lớn đến con ngƣời cũng nhƣ toàn xã hội. Nó không chỉ là nguyên nhân lây truyền căn bệnh thế kỷ HIV- AIDS mà còn là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, làm ảnh hƣởng đến sự phát triển lành mạnh của các thế hệ, ảnh hƣởng xấu đến thuần phong mỹ tục, truyền thống đạo đức của dân tộc. Vì vậy, cần áp dụng một hình phạt nghiêm khắc tƣơng xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo. Đó là tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS. Theo quy định tại khoản 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội, hƣớng dẫn về việc áp dụng các qui định có lợi cho ngƣời phạm tội tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2017. (Đối với tội tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại khoản 1 Điều 194 BLHS năm 1999 có khung hình phạt từ 2 năm - 7 năm tù, theo quy định tại Điều 249 BLHS năm 2015 đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt từ 01 năm - 05 năm). HĐXX sẽ xem xét áp dụng phần hình phạt có lợi theo qui định của BLHS năm 2015 để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo thể hiện tính nhân đạo của pháp luật. Tuy nhiên, xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, HĐXX cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt biết tôn trọng và chấp hành pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, kinh tế bản thân không có nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với 0,118 gam Heroin và vỏ bao gói đựng trong 01 phong bì niêm phong số 138/PC54 là mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 bộ bơm kim tiêm; 01 ống thuốc novocain. Xét Heroin là vật cấm lƣu hành; 01 vỏ bao gói mẫu, 01 bộ bơm kim tiêm; 01 ống thuốc novocain là vật không có giá trị nên tịch thu cho tiêu hủy theo qui định.
Đối với đối tƣợng đã bán trái phép chất ma túy cho Hải ở khu vực Trung tâm phòng chống HIV Hải Dƣơng. H khai không biết rõ họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể. Cơ quan CSĐT Công an thành phố Hải Dƣơng đang tiến hành xác minh, khi nào làm rõ đƣợc nhân thân lai lịch và hành vi vi phạm sẽ có hình thức xử lý sau.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm hình sự theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự; khoản 3 Điều 7 BLHS năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội.
Xử phạt bị cáo Lê Văn H 16 (Mười sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 10/5/2017.
2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng;
3. Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; điểm a, đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy mẫu vật hoàn lại sau giám định đƣợc đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong số 138/PC54 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dƣơng.
- Tịch thu tiêu hủy 01 bơm kim tiêm chƣa sử dụng và 01 ống thuốc Novacain chƣa sử dụng đƣợc đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong của Công an phƣờng Cẩm Thƣợng, thành phố Hải Dƣơng (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố Hải Dương với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Dương ngày 14/7/2017).
4. Về án phí: áp dụng khoản 1, 2 Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, buộc bị cáo Lê Văn H phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 231, 234 Bộ luật tố tụng hình sự; Bị cáo Lê Văn H đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (07/8/2017)./.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND Tp Hải Dương; - Công an Tp Hải Dương; - Trại tạm giam thuộc CA tỉnh HD; - Chi cục THADS TPHD; - Sở tư pháp Hải Dương; - Các bị cáo; - Lưu VP; - Lưu hồ sơ vụ án. | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trƣơng Thị Tố Uyên |