vanban.org

Bản án 133/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đinh Thị Tuyết H đối với bị đơn ông Từ Trung T về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Đinh Thị Tuyết H và ông Từ Trung T được ly hôn. Về con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đinh H - Từ T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đinh Thị Tuyết H đối với bị đơn ông Từ Trung T về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Văn bản hợp nhất số 21/VBHN-VPQH Đầu tư theo phương thức đối…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 18
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 133/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 07-9-2026
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 18 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Xuân

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Thành Tâm;

Bà Bồ Thị Ánh Tuyết.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thắm - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 18 - Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 18 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Ngọc Tuyết - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 18 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 688/2026/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2026 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 382/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 16/7/2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 238/2026/QĐST-HNGĐ ngày 12/8/2026, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đinh Thị Tuyết H, sinh năm: 1989; đăng ký thường trú: Tổ I, ấp A, xã T, tỉnh Đồng Nai; đăng ký tạm trú: Nhà Nguyễn Thị P, quốc lộ A, tổ B, khu phố C (nay là khu phố Đ), phường T, Thành phố Hồ Chí Minh - vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Từ Trung T, sinh năm: 1979; đăng ký thường trú: Tổ A, khu phố D (nay là khu phố T), phường T, Thành phố Hồ Chí Minh - vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện ngày 12/5/2026, bản tự khai và biên bản lấy lời khai trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn bà Đinh Thị Tuyết H trình bày:

Bà H và ông T chung sống từ năm 2019, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 135, ngày 09/9/2019, hôn nhân tự nguyện. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, thời gian sau phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm. Từ năm 2024, bà H và ông T không còn chung sống với nhau. Hiện tại vợ chồng không có tiếng nói chung, không ai quan tâm tới cuộc sống của người còn lại. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà H yêu cầu ly hôn với ông T.

Về con chung: Bà H và ông T có 01 con chung: Từ Khánh Thy, sinh ngày: 22/3/2023. Hiện cháu T1 đang sống với bà H. Từ khi vợ chồng không chung sống với nhau, ông T có tự thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng. Khi ly hôn, bà H mong muốn nuôi cháu T1, yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng (hai triệu đồng).

- Về tài sản chung, nợ chung: Không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Bị đơn: Ông Từ Trung T đã được tống đạt các văn bản tố tụng: Thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử và triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia phiên hòa giải đoàn tụ, tham gia phiên tòa. Tuy nhiên, ông T không chấp hành theo giấy triệu tập, vắng mặt không có lý do. Ông T cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà H.

3. Tại phiên tòa: Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 18 – Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến:

- Về tố tụng: Việc thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ là đúng theo quy định; nguyên đơn và những người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn không thực hiện nghĩa vụ phải có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án.

- Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về tố tụng:

Bị đơn ông Từ Trung T đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia phiên hòa giải đoàn tụ và tham gia phiên tòa nhưng ông T đều vắng mặt; việc vắng mặt của ông T không vì lý do bất khả kháng. Nguyên đơn bà Đinh Thị Tuyết H có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Về nội dung tranh chấp:

Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông T tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức cưới hỏi và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 135 ngày 09/9/2019, hôn nhân tự nguyện. Hôn nhân giữa bà H và ông T là hợp pháp theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

Về mâu thuẫn vợ chồng: Theo bà H trình bày, quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp. Từ năm 2024, vợ chồng không còn sống chung cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà H yêu cầu ly hôn với ông T để trả tự do cho nhau.

Sau khi thụ lý vụ án, Toà án tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng và nhiều lần triệu tập ông T đến Toà án để hoà giải đoàn tụ, hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng ông T không chấp hành theo giấy triệu tập, không có mặt tại Toà án. Qua đó cho thấy ông T không có thiện chí hoà giải đoàn tụ, hàn gắn tình cảm vợ chồng, không còn quan tâm đến hạnh phúc gia đình. Điều này cũng cho thấy mâu thuẫn vợ chồng của bà H và ông T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên có cơ sở chấp nhận cho bà H được ly hôn với ông T.

Về con chung: Quá trình chung sống bà H và ông T có 01 con chung tên: Từ Khánh Thy, sinh ngày: 22/3/2023. Bà H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc cháu T1 sau khi ly hôn, yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng (hai triệu đồng).

Xét thấy, cháu Từ Khánh T1 hiện còn nhỏ, cần sự chăm sóc, nuôi dưỡng của mẹ. Từ khi bà H, ông T không còn chung sống đến nay, cháu T1 sống cùng với mẹ. Bản thân bà H có nghề nghiệp, thu nhập ổn định. Do đó yêu cầu của bà H về quyền nuôi con chung là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên có cơ sở chấp nhận.

Ông Từ Trung T có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Bà Đinh Thị Tuyết H và các thành viên trong gia đình không được cản trở ông T trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ này. Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con và mức cấp dưỡng: Bà H trình bày, từ khi vợ chồng không còn chung sống với nhau, ông T có tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng. Nay bà H yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng như trước đây.

Khoản 24 Điều 3 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên…”.

Trong vụ án này, con chung của bà H và ông T là cháu T2 Khánh Thy cần được cấp dưỡng một khoản tiền để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của cháu trong cuộc sống. Kết quả xác minh, ông T hiện làm công nhân, thu nhập ổn định. Do đó, yêu cầu của bà H về việc buộc ông T cấp dưỡng cho con, mức cấp dưỡng 2.000.000 đồng/tháng là phù hợp nên có cơ sở chấp nhận.

Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu nên không đặt vấn đề xem xét giải quyết.

Ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 18

- Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp.

Về án phí sơ thẩm: Bà H yêu cầu ly hôn với ông T, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình không có giá ngạch. Theo khoản 1 Điều 6; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 235, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự (hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số 21/VBHN-VPQH ngày 12/02/2026);

Căn cứ vào khoản 1 Điều 6; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đinh Thị Tuyết H đối với bị đơn ông Từ Trung T về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Đinh Thị Tuyết H và ông Từ Trung T được ly hôn.

- Về con chung:

Giao cho Đinh Thị Tuyết H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung tên Từ Khánh T1, sinh ngày: 22/3/2023.

Ông Từ Trung T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng (hai triệu đồng). Thời gian cấp dưỡng tính kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi người được cấp dưỡng đủ 18 tuổi.

Khi Bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bà Đinh Thị Tuyết H cho đến khi thi hành án xong, ông Từ Trung T còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Ông Từ Trung T có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Bà Đinh Thị Tuyết H và các thành viên trong gia đình không được cản trở ông Từ Trung T trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ này.

Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không đặt vấn đề xem xét giải quyết.

2. Về án phí: Bà Đinh Thị Tuyết H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm án phí số 0033564 ngày 28/5/2026 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ