- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn V-V"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14 – CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:133/2026/HNGĐ-ST Ngày: 26 - 5 - 2026 V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14 – CẦN THƠ
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Liêm.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Trương ;
2. Bà Trần Thị Kim Thắm.
-Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kiều Trân – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 14 - Cần Thơ.
Ngày 26 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 14 – Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 86/2026/TLST-HNGĐ, ngày 09 tháng 02 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2026/QĐXXST-HN, ngày 15 tháng 4 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Nguyễn Hồng V, sinh năm 1981.
Địa chỉ: ấp P, xã C, thành phố Cần Thơ.
2. Bị đơn: Trần Thị Cẩm V1, sinh năm 1996.
Địa chỉ: ấp P, xã C, thành phố Cần Thơ.
Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn và các lời khai trong quá trình giải quyết, nguyên đơn Nguyễn Hồng V (Sau đây gọi anh V) trình bày:
Giữa anh và bị đơn Trần Thị Cẩm V1 (Sau đây gọi chị Cẩm V1) qua tìm hiểu nhau mà tự nguyện quyết định đi đến hôn nhân vào năm 2016, có đăng ký kết hôn. Vợ chồng chung sống phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Từ đó vợ chồng hay cãi vã nhau, nhiều lần hòa giải hàn gắn tình cảm vẫn không đoàn tụ được, chị Cẩm V1 tự ý bỏ nhà ra đi nên vợ chồng sống ly thân từ năm 2023. Do cuộc sống chung không hạnh phúc, anh V1 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về hôn nhân: Xin ly hôn với chị Cẩm V1.
- Về con chung: Có một người con chung tên Nguyễn Trần Bảo T (N), sinh ngày 05 tháng 10 năm 2016. Từ khi ly thân đến nay thì con chung do anh V1 nuôi dưỡng. Nay ly hôn anh yêu cầu được tiếp tục nuôi con mà chưa yêu cầu chị Cẩm V1 cấp dưỡng nuôi con.
Về nợ và tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 23 tháng 3 năm 2026, cháu Nguyễn Trần Bảo T trình bày (Có sự chứng kiến của anh V1): Khi cha mẹ cháu ly hôn, cháu có nguyện vọng được sống với cha. Quá trình tố tụng bị đơn Trần Thị Cẩm V1 vắng mặt nên không có lời trình bày.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Tranh chấp giữa các đương sự là Tranh chấp Ly hôn và nuôi con được qui định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 14 – Cần Thơ.
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn Nguyễn Hồng V có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn Trần Thị Cẩm V1 được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, vắng mặt không lý do nhưng không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan; căn cứ Điều 227, 228 và 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử mở phiên tòa xét xử vắng mặt đối với đương sự.
Xét về quan hệ hôn nhân: Chị Cẩm V1 và anh V1 qua tìm hiểu nhau, tự nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 2016, có đăng ký kết hôn ngày 01 tháng 8 năm 2016 tại Ủy ban nhân dân thị trấn M, huyện C, tỉnh Hậu Giang cũ. Nay là xã C, thành phố Cần Thơ nên hôn nhân của anh, chị là hợp pháp và được pháp luật thừa nhận.
Xét yêu cầu xin ly hôn của anh V1: Anh và chị Cẩm V1 trong thời gian chung sống có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống mà không có giải pháp khắc phục để hoà giải hàn gắn tình cảm mà đã chọn cách sống ly thân; xét thời gian ly thân thì tự ai người đó sống, không ai quan tâm, lo lắng cho ai. Trong quá trình giải quyết, Tòa án tạo điều kiện để hòa giải đoàn tụ nhưng chị Cẩm V1 vắng mặt và cũng không có ý kiến gì về đời sống hôn nhân với anh V1, đều đó chứng minh chị Cẩm V1 cũng không còn quan tâm đến cuộc hôn nhân hiện tại. Trong khi đó, quá trình giải quyết, anh V1 xác định là không còn tình cảm vợ chồng với chị Cẩm V1 và cương quyết xin ly hôn. Từ đó thấy rằng hôn nhân giữa hai người đã thật sự lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, có cơ sở chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh V1.
Về con chung: Có một người con chung, anh chị không tranh chấp về quyền nuôi con. Xét cháu Bảo T được sống với anh V1 từ khi hai người ly thân, anh V1 yêu cầu được nuôi con chung. Xét cháu Bảo T đã trên 7 tuổi, cháu có nguyện vọng được sống với cha. Nhằm tránh gây xáo trộn đời sống của cháu, cần tiếp tục giao cháu Bảo T cho anh V1 được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc khi chị Cẩm V1, anh V1 có yêu cầu khác.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Anh V1 chưa yêu cầu cấp dưỡng tiền nuôi con chung nên không đặt ra xem xét. Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho chị Cẩm V1 mà không ai có quyền cản trở.
Về nợ và tài sản chung: Anh V1 không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp theo quy định pháp luật.
Các đương sự được quyền kháng cáo theo luật định;
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, 227, 228 và 238 Bộ Luật Tố tụng dân sự. Các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30.12.2016 của Ủy Ban T1 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: 1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa giữa Nguyễn Hồng V và Trần Thị Cẩm V1. 2. Về nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Trần Bảo T (Nữ), sinh ngày 05 tháng 10 năm 2016 cho Nguyễn Hồng V được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc khi chị Cẩm V1, anh V1 có yêu cầu khác. Trần Thị Cẩm V1 chưa phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho Trần Thị Cẩm V1 mà không ai có quyền cản trở.
3. Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết, không xem xét.
4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyễn Hồng V phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ từ 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002911, ngày 09 tháng 02 năm 2026 của Thi hành án dân sự thành phố C thành án phí, không phải nộp thêm.
Trường hợp quyết định này được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - TAND TP Cần Thơ; - THADS TP Cần Thơ; - VKSND Khu vực 14-Cần Thơ; -UBND xã Châu Thành, TP Cần Thơ; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thanh Liêm |