vanban.org

Bản án 133/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Vũ Kim T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Vũ Kim T được ly hôn với ông Nguyễn Quốc Đ. 2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Quốc D, sinh ngày 20/12/2014 cho bà Vũ Kim T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu D đủ 18 tuổi. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Vũ Kim T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
KHU VỰC 10 – CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 133/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 30/6/2026
V/v Tranh chấp Ly hôn và nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nhẫn.

Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Diễm Huyền.

2. Bà Huỳnh Khiết Như.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Hồng Trang – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10 – Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Vũ Anh – Kiểm sát viên.

Ngày 30/6/2026, tại phòng xử án thuộc trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 – Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 212/2026/TLST–HNGĐ ngày 11/5/2026 về việc “Tranh chấp Ly hôn và nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 321/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/5/2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 250/2026/QĐST-HNGĐ ngày 12/6/2026, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Vũ Kim T, sinh ngày 07/8/1982; CCCD số: xxxxxxxxxxxx cấp ngày 12/02/2022, nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.

Địa chỉ: Khu V, phường T, thành phố Cần Thơ (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Quốc Đ, sinh ngày 01/01/1982

Địa chỉ: ấp A, xã A, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Căn cứ vào đơn khởi kiện của nguyên đơn, qua xem xét lời khai và yêu cầu của các đương sự, qua xét hỏi trước tòa, nội dung vụ án được xác định như sau:

Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Vũ Kim T trình bày: Vào năm 2004 bà Vũ Kim T và ông Nguyễn Quốc Đ có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại UBND xã A. Trong quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Kim Y, sinh ngày 04/8/2003; Nguyễn Quốc D, sinh ngày 20/12/2014 hiện nay sống chung với mẹ. Thời gian đầu vợ chồng sống chung rất hạnh phúc. Tuy nhiên, gần đây hai bên bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi vã, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, vợ chồng không còn tiếng nói chung. Hai vợ chồng đã không còn sống chung từ năm 2019 đến nay. Nhận thấy đời sống hôn nhân vợ, chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà T yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Quốc Đ.

- Về con chung: Đối với con chung tên Nguyễn Kim Y, sinh năm 04/8/2003 hiện đã trưởng thành và phát triển đầy đủ về mặt thể chất và tinh thần nên không yêu cầu Toà án giải quyết. Yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Quốc D, sinh ngày 20/12/2014 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Đối với bị đơn ông Nguyễn Quốc Đ: Từ khi Tòa án thụ lý giải quyết cho đến nay, ông Đ không tham gia tố tụng nên Tòa án không thể thu thập được lời khai và yêu cầu của ông Đ.

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Phát biểu ý kiến:

Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Thẩm phán tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 như thẩm quyền thụ lý vụ án, xác định tư cách đương sự, quan hệ tranh chấp, thu thập chứng cứ. Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật. Riêng bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật.

Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Xét thấy, tại phiên tòa nguyên đơn bà Vũ Kim T, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn ông Nguyễn Quốc Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn. [2] Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông Đ chung sống với nhau trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên được pháp luật công nhận hôn nhân của ông bà là hợp pháp. Trong quá trình chung sống, bà T và ông Đ phát sinh nhiều mâu thuẫn. Hội đồng xét xử thấy rằng, quan hệ hôn nhân phải được xây dựng trên cơ sở tự nguyện của hai bên, bà T và ông Đ sống chung phát sinh nhiều mâu thuẫn, hôn nhân không hạnh phúc. Ông Đ cũng không đến Tòa tham gia tố tụng, không tham gia hòa giải nên chưa có thiện chí hàn gắn, mục đích hôn nhân không thể đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T, cho bà T và ông Đ được ly hôn để mỗi người tạo lập cuộc sống mới.

Về con chung: Bà T và ông Đ có 02 con chung là cháu Nguyễn Kim Y, sinh ngày 04/8/2003; Nguyễn Quốc D, sinh ngày 20/12/2014 hiện nay sống chung với mẹ. Xét thấy, cháu Nguyễn Kim Y, sinh ngày 04/8/2003 hiện đã trưởng thành và phát triển đầy đủ về mặt thể chất và tinh thần nên Hội đồng xét xử không xem xét, đối với con chung là cháu Nguyễn Quốc D, sinh ngày 20/12/2014 bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, xét thấy yêu cầu của bà T là phù hợp với điều kiện thực tế và quy định của pháp luật, hiện nay cháu D đang sống với bà T, ông Đ không có ý kiến về vấn đề nuôi con nhưng để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con chung, Hội đồng xét xử cần ổn định môi trường sống của cháu. Căn cứ các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử cần giao cháu D cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu D đủ 18 tuổi, theo nguyện vọng của cháu D là muốn được sống chung với mẹ. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông Đ, không ai được quyền ngăn cản.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. [3] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát: Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Cần Thơ như đã phân tích trên. [4] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. [5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227, 228; Điều 238; Điều 271, 273; Điều 278, Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Điều 26 Luật Thi hành án dân sự;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,

TUYÊN XỬ:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Vũ Kim T.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Vũ Kim T được ly hôn với ông Nguyễn Quốc Đ.

1.2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Quốc D, sinh ngày 20/12/2014 cho bà Vũ Kim T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu D đủ 18 tuổi.

Ông Nguyễn Quốc Đ được quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai có quyền ngăn cản.

1.3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

2. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

3. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng, bà Vũ Kim T phải chịu là 300.000 đồng, được khấu trừ vào Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009082 ngày 11/5/2026 do Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ đã thu.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đối với người vắng mặt được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật, để Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xử phúc thẩm.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a ,7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ