vanban.org

Bản án 133/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

năm 2010 (Luật số 47/2010/QH12 ngày 16/10/2010 của Quốc Hội); Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín"
  • Tòa quyết gì? và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 133/2025/DS-ST
Ngày: 30/7/2025
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Nga.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Thiếu Liên;

2. Bà Bùi Diệu Huệ.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Mai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Thành phố Hồ Chí Minh tham

gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 - Thành phố

Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 1368/2025/TLST- DS

ngày 15 tháng 11 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết

định đưa vụ án ra xét xử số 288/2025/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 6 năm 2025 và

Quyết định hoãn phiên toà số 256/2025/QĐST-DS ngày 30 tháng 5 năm 2025 giữa

các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Việt Nam T V. Trụ sở: 89 Láng Hạ,

phường ĐĐ, Thành phố H (số cũ: 89 Láng Hạ, quận ĐĐ, thành phố H);

Người đại diện theo pháp luật: ông Ngô Chí D, chức danh: chủ tịch HĐQT.

Người đại diện theo uỷ quyền ông Hoàng Hải L, sinh năm: 2000; địa chỉ: Lầu 3, 2B

Quang Trung, phường HT, Thành phố H theo văn bản uỷ quyền số

7399.04/2025/UQN-PUN-RCC ngày 25/02/2025.

2. Bị đơn: Ông Lê Văn N, sinh năm: 1984; Địa chỉ: 42/2 đường Đình Tân

Khai, phường BT, Thành phố H (số cũ: 42/2 Đình Tân Khai, phường BT, quận BT,

Thành phố H).

Ông Hoàng Hải L có đơn xin vắng mặt, ông Lê Văn N vắng mặt không có lý

do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện nộp cho Toà án, bản tự khai cùng các tài liệu, chứng cứ

khác đã thu thập được có trong hồ sơ thì nội dung vụ án được xác định như sau:

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Hoàng Hải L trình bày:

Ngày 27/10/2021 ông Lê Văn N có ký với Ngân hàng TMCP Việt Nam TV

(gọi tắt là Ngân hàng) Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng điện tử (còn gọi là hợp đồng số LD2130100743), hạn mức tín dụng là 150.000.000 đồng với mục đích vay phục vụ nhu cầu đời sống, lãi suất là 24%/năm được cố định đến ngày 01/10/2022, sau đó điều chỉnh định kỳ vào ngày 01/01, 01/4, 01/7, 01/10 hàng năm mức lãi suất điều chỉnh được xác định bằng mức lãi suất tham chiếu cộng biên độ 16% (lãi suất trong hạn). Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Lê Văn N thanh toán cho ngân hàng số tiền nợ gốc là 22.177.592 đồng, nợ lãi là 37.823.090 đồng. Tạm tính đến ngày 30/7/2025 ông Lê Văn N còn nợ ngân hàng tổng số tiền 263.116.858 đồng, trong đó nợ gốc là 127.822.408 đồng, nợ lãi là 135.294.450 đồng.

Ngày 07/6/2022 ông Lê Văn N có ký với Ngân hàng TMCP Việt Nam TV

(gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng cho vay áp dụng đối với khách hàng cá nhân vay vốn từng lần không tài sản bảo đảm số LD2215800222, số tiền cho vay là 47.000.000 đồng, thời hạn vay 57 tháng, mục đích vay phục vụ nhu cầu đời sống, lãi suất là 24%/năm được cố định đến ngày 01/10/2022, sau đó điều chỉnh định kỳ vào ngày 01/01, 01/4, 01/7, 01/10 hàng năm mức lãi suất điều chỉnh được xác định bằng mức lãi suất tham chiếu cộng biên độ 18% (lãi suất trong hạn). Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Lê Văn N thanh toán cho ngân hàng số tiền nợ gốc là 2.511.785 đồng, nợ lãi là 6.322.852 đồng. Tạm tính đến ngày 30/7/2025 ông Lê Văn N còn nợ ngân hàng tổng số tiền 94.901.447 đồng, trong đó nợ gốc là 44.488.215 đồng, nợ lãi là 50.413.232 đồng.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng vay vốn ông Lê Văn N đã vi phạm nghĩa

vụ thanh toán đối với cả hai hợp đồng nêu trên tại Ngân hàng nên khoản vay chuyển sang nợ quá hạn và chịu lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn theo thỏa thuận kể từ ngày 16/01/2023. Tạm tính đến ngày 30/7/2025 ông Nhựt còn nợ Ngân hàng tổng số tiền theo các hợp đồng đã ký là 358.018.305 đồng, trong đó nợ gốc là 172.310.623 đồng, nợ lãi là 185.707.682 đồng.

Ngân hàng TMCP Việt Nam TV khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc

ông Lê Văn N phải trả cho Ngân hàng TMCP Việt Nam TV toàn bộ số tiền nợ tạm tính đến ngày 30/7/2025 ông Nhựt còn nợ Ngân hàng tổng số tiền theo các hợp đồng đã ký là 358.018.305 đồng, trong đó nợ gốc là 172.310.623 đồng, nợ lãi là 185.707.682 đồng. Trả một lần ngày sau khi án có hiệu lực pháp luật. Buộc ông Lê Văn N có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 31/7/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại các Hợp đồng đã ký với ngân hàng.

Nguyên đơn chỉ yêu cầu cá nhân ông Lê Văn N trả nợ vì khi ký hợp đồng tín

dụng Ngân hàng chỉ ký hợp đồng với cá nhân ông N, ngoài ra ngân hàng không yêu cầu ai khác phải có nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trên.

Ông Lê Văn N không thế chấp bất kì giấy tờ gì cho Ngân hàng TMCP Việt

Nam TV, ngân hàng cũng không giữ bản chính giấy tờ gì của ông Nhựt.

Ngoài ra Ngân hàng TMCP Việt Nam TV không yêu cầu thêm bất kỳ khoản

tiền nào khác.

Bị đơn ông Lê Văn N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án,

Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa

giải để bà đến Tòa án giải quyết vụ kiện, nhưng ông Lê Văn N vắng mặt không có lý

do và cũng không gửi cho Tòa án ý kiến trình bày của bà đối với yêu cầu khởi kiện

của nguyên đơn.

Tại phiên tòa:

- Đại diện nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu và xin được vắng mặt.

- Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa

nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Thành phố Hồ Chí

Minh:

Về tố tụng: việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký trong thời hạn

chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện

đúng và đầy đủ nội dung quy định về thụ lý, thẩm quyền, quan hệ tranh chấp và

đúng trình tự tố tụng quy định tại các Điều 196, 204, 205, 209, 210, 211 của Bộ luật

Tố tụng dân sự năm 2015. Việc giao hồ sơ cho Viện kiểm sát đúng quy định. Về thời

hạn chuẩn bị xét xử tuân thủ đúng quy định tại Khoản 1 Điều 203 Bộ luật Tố tụng

dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký cũng đã thực hiện đúng quy định của

Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên

đơn đã thực hiện đúng các quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; Bị

đơn chưa chấp hành đúng các quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi

kiện của nguyên đơn.

- Các đương sự đều không nộp thêm chứng cứ mới cho Tòa án và không yêu

cầu Tòa án thu thập thêm tài liệu, chứng cứ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên

toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: xét Giấy đề nghị cấp thẻ tín

dụng kiêm Hợp đồng giữa Ngân hàng TMCP Việt Nam TV và ông Lê Văn N là

quan hệ hợp đồng tín dụng giữa pháp nhân và cá nhân với mục đích vay là tiêu dùng

cho cá nhân được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông

Lê Văn N có nơi cư trú tại phường Bình Trị Đông, Thành phố Hồ Chí Minh nên

thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Thành phố Hồ Chí

Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về thủ tục tố tụng: do cá nhân ông Lê Văn N giao dịch với Ngân hàng

TMCP Việt Nam TV, nguyên đơn chỉ khởi kiện yêu cầu ông Lê Văn N trả tiền, ngoài ra không yêu cầu ai khác phải có trách nhiệm trả khoản nợ trên. Ông Lê Văn N không có yêu cầu gì và vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử chỉ xem xét trách nhiệm trả nợ của cá nhân ông Lê Văn N đối với Ngân hàng TMCP Việt Nam TV.

Ông Hoàng Hải Long là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn

xin vắng mặt, ông Lê Văn N là bị đơn vắng mặt không có lý do, căn cứ vào quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Bị đơn ông Lê Văn N đã được Tòa án triệu tập nhiều lần đến Tòa để giải

quyết vụ án theo quy định của pháp luật nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do. Như vậy, bị đơn đã tự tước bỏ quyền phản đối yêu cầu của nguyên đơn đối với mình, tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình, nên bị đơn phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, thì: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ yêu cầu khởi kiện, lời khai của đại diện nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xem xét giải quyết vụ án.

Về yêu cầu của nguyên đơn buộc ông Lê Văn N phải trả cho Ngân hàng

TMCP Việt Nam TV tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày 30/7/2025 là 358.018.305 đồng, trong đó nợ gốc là 172.310.623 đồng, nợ lãi là 185.707.682 đồng. Trả một lần ngày sau khi án có hiệu lực pháp luật. Buộc ông Lê Văn N có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 31/7/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại các Hợp đồng đã ký với ngân hàng.

Hội đồng xét xử xét thấy:

Việc ký kết hợp đồng tín dụng vay tiền giữa các bên đương sự là hoàn toàn tự

nguyện, nội dung thoả thuận trong hợp đồng không trái quy định của luật, không trái đạo đức xã hội nên hợp đồng tín dụng giữa các bên có hiệu lực và được pháp luật công nhận, bảo vệ. Quá trình thực hiện hợp đồng thì ông Lê Văn N không trả nợ gốc và lãi đầy đủ, đúng hạn theo thỏa thuận nên đã vi phạm hợp đồng, vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Do đó, căn cứ Điều 280, 466 của Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả số tiền nợ gốc là 172.310.623 đồng là có cơ sở chấp nhận.

Đối với yêu cầu trả lãi: Ngân hàng TMCP Việt Nam TV tính lãi quá hạn dựa

vào sự thỏa thuận giữa các bên trong Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 27/10/2021 và Hợp đồng cho vay áp dụng đối với khách hàng cá nhân vay vốn từng lần không tài sản bảo đảm số LD2215800222 ngày 07/6/2022; thỏa thuận này phù hợp với các quy định của Ngân hàng Nhà nước về việc cho vay của tổ chức tín dụng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận đối với yêu cầu trả tiền lãi của nguyên đơn.

Về thời hạn thanh toán: Do bị đơn vi phạm thời hạn thanh toán trong một thời

gian dài nên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn phải thanh toán toàn bộ

số tiền trên cho nguyên đơn ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

. Về ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Thành

phố Hồ Chí Minh tại phiên Tòa là có căn cứ và cũng phù hợp với nhận định của Hội

đồng xét xử.

. Về án phí dân sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên

bị đơn ông Lê Văn N phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố

tụng dân sự. Hoàn lại cho Ngân hàng TMCP Việt Nam TV tiền tạm ứng án phí dân

sự sơ thẩm đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 21, khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39,

Điều 91, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 147, Điều 228, Điều 266, khoản 1 Điều 273

và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 91 và khoản 1 Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng

năm 2010 (Luật số 47/2010/QH12 ngày 16/10/2010 của Quốc Hội);

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban

Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng

án phí và lệ phí tòa án;

Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Việt Nam TV.

1.1. Buộc ông Lê Văn N phải trả cho Ngân hàng TMCP Việt Nam TV số tiền

nợ là 358.018.305 (ba trăm năm mươi tám triệu không trăm mười tám nghìn, ba trăm

lẻ năm) đồng, trong đó nợ gốc là 172.310.623 (một trăm bảy mươi hai triệu ba trăm

mười nghìn, sáu trăm hai mươi ba) đồng, nợ lãi là 185.707.682 (một trăm tám mươi

lăm triệu bảy trăm lẻ bảy nghìn, sáu trăm tám mươi hai) đồng; trả một lần ngay khi

bản án có hiệu lực pháp luật.

1.2. Tiền lãi được tiếp tục tính kể từ ngày 31/7/2025 trở đi cho đến khi ông Lê

Văn N trả hết nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận được quy định tại Giấy đăng ký

kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán

và dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 27/10/2021 và Hợp đồng cho vay áp dụng đối với

khách hàng cá nhân vay vốn từng lần không tài sản bảo đảm số LD2215800222 ngày

07/6/2022 ký giữa ông Lê Văn N và Ngân hàng TMCP Việt Nam TV.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: ông Lê Văn N phải nộp 17.900.915 (mười bảy

triệu chín trăm nghìn chín trăm mười lắm) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Việt Nam TV số tiền tạm ứng án phí là

3.781.094 (ba triệu bảy trăm tám mươi mốt nghìn không trăm chín mươi bốn) đồng theo biên lai số 0007533 ngày 26 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh) và là 2.113.247 (hai triệu một trăm mười ba nghìn hai trăm bốn mươi bảy) đồng theo biên lai số 0077160 ngày 25 tháng 4 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh).

3. Các đương sự thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

4. Về quyền và thời hạn kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền

kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Cỡ chữ