- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51/Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2, khoản 3
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 133/2023/HSST Ngày: 06/09/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Trung Phước. Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Như; Ông Tòng Văn Đại. - Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Lò Văn Sơm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Than Uyên. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên tòa: Bà: Kiều Thị T - Kiểm sát viên Ngày 06/9/2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Lai Châu, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, thụ lý số 133/2023/TLST-HS ngày 31/7/2023, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 133/2023/QĐXXST-HS ngày 25/8/2023 đối với bị cáo: Họ và tên: ĐÈO THỊ K; Tên gọi khác: không; Giới tính: nữ; Sinh ngày 11/11/1980, tại huyện T, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: bản L1, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: trồng trọt; Trình độ học vấn: xóa mù chữ; Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể: không; Con ông Đèo Văn D, sinh năm 1928 (đã chết) và bà Lò Thị P, sinh năm 1930; Gia đình bị cáo có 08 anh, chị, em; bị cáo là con thứ năm; Bị cáo có chồng là Lò Văn C, sinh năm 1979 và 03 người con, con lớn nhất sinh năm 2002, con nhỏ nhất sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 03/5/2023, tạm giam từ ngày 12/5/2023, tại Nhà tạm giữ Công an huyện Than Uyên cho đến nay (có mặt). NỘI DUNG VỤ ÁN Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Buổi sáng ngày 03/5/2023, Đèo Thị K (không nhớ rõ giờ) đang một mình đi bộ trong bản L1, xã T, huyện T thì gặp một người phụ nữ dân
tộc Mông không rõ lai lịch, qua nói chuyện, K mua của người phụ nữ này 01 gói Heroine (được gói bằng mảnh nilon nhiều màu sắc) với giá 200.000 đồng. Sau đó, K mang gói Heroine về nhà tại bản L1, xã T, huyện T, cất giấu trong buồng ngủ không cho ai biết, mục đích: để cho chồng của K là Lò Văn C sử dụng và có ai hỏi mua thì bán. Theo Đèo Thị K khai nhận: khoảng 09 giờ cùng ngày, K đang một mình ở nhà thì có 02 người đàn ông (không rõ lai lịch) đến nhà K, một người đứng ngoài sân còn một người đi vào nhà hỏi mua Heroine và đưa cho K 200.000 đồng. K cầm tiền rồi đi vào buồng ngủ lấy gói Heroine đã mua vào buổi sáng, bẻ một ít, gói vào mảnh giấy bạc rồi đưa cho người đàn ông, sau đó hai người đàn ông này đi đâu không rõ. Sau khi bán Heroine xong, K lấy gói Heroine còn lại (được gói bằng mảnh nilon nhiều màu sắc) để ở trong buồng ngủ ra định chia nhỏ để cho chồng sử dụng dần và nếu có ai hỏi mua thì bán. Hồi 09 giờ 30 phút cùng ngày 03/5/2023 Đèo Thị K bị lực lượng Công an xã T phát hiện. Vật chứng thu giữ của Đèo Thị K 01 gói Heroine được gói bằng mảnh nilon nhiều màu sắc. Ngoài ra còn thu giữ số tiền 300.000 đồng, K khai nhận là trong đó có 200.000 đồng do bán Heroine mà có. Kết luận giám định số 66 ngày 03/5/2023 của người giám định tư pháp theo vụ việc và Bản kết luận giám định số 519/KL-KTHS ngày 05/5/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: “số chất bột màu trắng thu giữ của Đèo Thị K có khối lượng là 0,37 gam, là ma túy, loại: Heroine (Heroin)”. Kết luận giám định số 520/KL-KTHS ngày 06/5/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: “số tiền 300.000 đồng gửi giám định là tiền thật”. Vật chứng của vụ án gồm: 01 gói Heroine thu giữ của Đèo Thị K có khối lượng 0,37 gam, đã trích 0,08 gam gửi giám định, còn lại 0,29 gam Heroine, 01 mảnh nilon nhiều màu sắc và 01 vỏ bì niêm phong ban đầu; số tiền 300.000 đồng thu giữ của Đèo Thị K. Các vật chứng còn lại hiện đang được bảo quản theo quy định của pháp luật. Cáo trạng số 104/CT-VKS ngày 30/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T, truy tố bị cáo Đèo Thị K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251/Bộ luật hình sự. Quá trình điều, tra truy tố, bị cáo Đèo Thị K đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án về thời gian và địa điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đèo Thị K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Về hình phạt, đề nghị áp dụng khoản 1 khoản 5 Điều 251; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38/Bộ luật hình sự, đề nghị tuyên phạt bị cáo Đèo Thị K mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Đề nghị miễn hình phạt bổ sung và miễn án phí HSST cho bị cáo. Về vật chứng đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47/Bộ luật hình sự, khoản 2, khoản 3 Điều 106/Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu 0,29 gam Heroine, 01 mảnh nilon nhiều màu sắc và 01 vỏ bì niêm phong ban đầu để tiêu hủy. Trả lại cho bị cáo số tiền 300.000 đồng do không chứng minh được số tiền này do bán trái phép chất ma túy mà có. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện những chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Điều tra viên, Kiểm sát viên và những người tiến hành tố tụng khác đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đối với vụ án theo quy định tại các Điều 17, Điều 19, Điều 20, Điều 34, Điều 36, Điều 37, Điều 41, Điều 42/Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đảm bảo đúng quy định của pháp luật. [2]. Về hành vi phạm tội và cấu thành tội phạm: Buổi sáng ngày 03/5/2023 (bị cáo không nhớ rõ giờ), tại bản L1, xã T, huyện T, Đèo Thị K đã mua trái phép 01 gói Heroine từ một người phụ nữ không rõ lai lịch với giá 200.000 đồng, mục đích để sử dụng và bán. Đến 09 giờ 30 phút cùng ngày, tại bản L1, xã T, huyện T, Đèo Thị K bị bắt quả tang, thu giữ 01 gói Heroine có khối lượng 0,37 gam. Hành vi bị cáo Đèo Thị K thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251/Bộ luật hình sự. [3]. Về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, ảnh hưởng xấu đến tình hình an
ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo Đèo Thị K là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Ma tuý đang là nỗi nhức nhối trong đời sống xã hội, và là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Do đó mọi hành vi phạm tội liên quan tới ma tuý cần phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật. [4]. Về mục đích phạm tội của bị cáo: Bị cáo Đèo Thị K không nghiện chất ma túy, việc mua trái phép chất ma túy theo lời khai của bị cáo, ngoài việc để cho chồng sử dụng, bị cáo còn bán lại cho các đối tượng nghiện chất ma túy khác để thu lợi bất chính. [5]. Về nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Đèo Thị K được sinh ra trong gia đình lao động, mặc dù là phụ nữ nhưng không chịu khó tu dưỡng rèn luyện, làm ăn chân chính. Để có tiền tiêu sài cá nhân bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội mua bán trái phép chất ma túy. Như vậy nội dung Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện T truy tố hành vi phạm tội và đề xuất mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ chấp nhận. Cần có một mức án tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo có điều kiện cải tạo, trở thành người có ích cho gia đình và xã hội. Tuy nhiên quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về những hành vi phạm tội của mình. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại địa phương có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, trình độ học vấn thấp, khả năng nhận thức pháp luật còn có phần hạn chế, bị cáo có mẹ đẻ là bà Lò Thị P đã có thành tích tham gia trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được Ủy ban nhân dân tỉnh Lai Châu tặng Bằng khen năm 2007, có cha đẻ là ông Đèo Văn D tham gia Dân công hỏa tuyến. Vì vậy Hội đồng xét xử cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51/Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo Đèo Thị K không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52/Bộ luật hình sự. [6]. Về vật chứng: Đối với 0,29 gam Heroine còn lại sau giám định là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành, 01 mảnh nilon nhiều màu sắc và 01 vỏ bì niêm phong ban đầu, xét thấy không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy; Đối với số tiền 300.000 thu giữ của Đèo Thị K do không có căn cứ chứng minh bị cáo có được số tiền này từ việc bán trái phép chất ma túy, nên cần trả lại cho bị cáo. [7]. Một số vấn đề liên quan trong vụ án: Về nguồn gốc Heroine, bị cáo Đèo Thị K khai mua từ một người không rõ
lai lịch nên không có căn cứ để xác minh, điều tra, xử lý. Đối với người đàn ông đã mua Heroine của K vào khoảng 09 giờ ngày 03/5/2023, Đèo Thị K không rõ lai lịch của người này nên không có căn cứ để xác minh, xử lý. Đối với Lò Văn C (là chồng của bị cáo Đèo Thị K), theo bị cáo khai nhận mua Heroine về để cho chồng sử dụng và bán. Quá trình điều tra xác định: Lò Văn C không xúi giục Đèo Thị K mua Heroine cho mình và C không biết việc K mua Heroine vào ngày 03/5/2023. Do vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với Lò Văn C là có căn cứ. [8]. Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại địa phương có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa có đề nghị được miễn án phí nên sẽ được miễn án phí HSST. [9]. Về biện pháp ngăn chặn: Cần tiếp tục áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án. Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 khoản 5 Điều 251; Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 47, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51/Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333/Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12/Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. 1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đèo Thị K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. 2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đèo Thị K 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/5/2023. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. 3. Về vật chứng: Tịch thu 0,29 gam Heroine còn lại sau giám định của Đèo Thị K, tịch thu 01 mảnh nilon nhiều màu sắc và 01 vỏ bì niêm phong ban đầu để tiêu hủy; Trả lại cho bị cáo số tiền 300.000 (ba trăm nghìn đồng). Các vật chứng nêu trên đang được bảo quản, lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Than Uyên. Tình trạng, đặc điểm vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 01/8/2023 giữa Cơ quan CSĐT - Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện T. 4. Về án phí: Bị cáo Đèo Thị K được miễn án phí HSST. 5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: - Toà án ND tỉnh Lai Châu; - VKSND tỉnh Lai Châu; - Sở tư pháp Lai Châu; - VKSND cùng cấp; - Chi cục THADS huyện T; Đã ký - Nhà TG - CA huyện T; - Người tham gia tố tụng; - Bị cáo; - Lưu HS. Đoàn Trung Phước | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |