- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tăng Tiến Tài - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Tăng Tiến T, Tăng Ngọc P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 133/2023/HS-ST Ngày: 20-11-2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Quyết
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lâm Văn Quốc Trọng
2. Bà Trần Thị Ngọc Thanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Anh Tú – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên tòa:
Ông Hoàng Văn Hoan – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 116/2023/TLST-HS ngày 19 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Tăng Tiến T; sinh ngày: 09/10/1993 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: đường Hoà H, Phường T, Quận K, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: đường Hoà H, Phường T, Quận K, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Tăng V (chết) và bà: Nguyễn Hồng T (chết); tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 19/8/2013, bị Uỷ ban nhân dân Phường 13 Quận 10 áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”, theo Quyết định số 154/QĐ-UB. Ngày 05/8/2015, bị Uỷ ban nhân dân Phường 13 Quận 10 áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn biện pháp quản lý tại gia đình trong thời hạn 06 tháng, về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý” theo Quyết định số 217/QĐ-UBND, chấp hành xong ngày 05/02/2016. Ngày 05/9/2017, bị Toà án nhân dân Quận 10 áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”, thời hạn 18 tháng theo Quyết định số 101/2017/QĐ-TA; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/4/2023 tại Nhà tạm giữ Công an Quận 10.
2. Tăng Ngọc P (tên gọi khác: V); sinh ngày: 14/11/1989 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: đường Hoà H, Phường T, Quận K, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: đường Hoà H, Phường T, Quận K, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Tăng V (chết) và bà Nguyễn Hồng T (chết); Chồng: Thái Thanh T; Bị cáo có 03 con, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/4/2023 tại Nhà tạm giữ Công an Quận 10.
3. Nguyễn Tuấn Kiệt Anh V; sinh ngày: 11/12/1985 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: đường Cách Mạng Tháng T, Phường T, Quận K, Thành Phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: đường Cách Mạng Tháng T, Phường T, Quận K, Thành Phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên Chúa; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn H (chết) và bà: Nguyễn Thị Xuân H (chết); tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 22/4/2003, bị Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, theo Bản án số 109/HSPT, chấp hành xong án phí ngày 14/10/2003. Ngày 05/6/2003, bị Toà án nhân dân quận Bình Thạnh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp hình phạt với Bản án số 109/HSPT ngày 22/4/2003 buộc chấp hành 02 năm 06 tháng tù, theo Bản án số 120/HSST, chấp hành án đến ngày 01/02/2005 giảm án tha và chấp hành xong án phí ngày 08/7/2003; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/4/2023 tại Nhà tạm giữ Công an Quận 10.
(Bị cáo có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lúc 15 giờ 30 phút ngày 26/4/2023, Tổ tuần tra Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an Quận 10 tuần tra đến trước nhà số Cách Mạng Tháng T, Phường T, Quận K, phát hiện bị cáo Nguyễn Tuấn Kiệt Anh V điều khiển xe môtô mang biển số 59U1-544xx có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành mời về trụ sở Công an Phường 13 Quận 10 kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra, phát hiện trong túi áo khoác của bị cáo V có 02 gói nylon chứa chất bột màu trắng, bị cáo V khai nhận là ma túy loại heroine, cất giữ để sử dụng. Công an Phường 13 Quận 10 lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với bị cáo V, chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 xử lý.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10, bị cáo Nguyễn Tuấn Kiệt Anh V khai nhận mua 02 gói ma tuý trên vào lúc 15 giờ ngày 26/4/2023, tại đầu hẻm Hòa H, Phường T Quận K của người tên Tăng Tiến T, với giá 200.000 đồng, đây là lần thứ hai bị cáo V mua ma túy của bị cáo T, lần đầu mua 100.000 đồng vào khoảng đầu tháng 4/2023.
Lúc 18 giờ 30 phút ngày 26/4/2023, Tổ tuần tra Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an Quận 10 tuần tra đến trước nhà số Hòa H, Phường T, Quận K, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện bị cáo Tăng Tiến T điều khiển xe môtô mang biển số 59BD-034.xx có biểu hiện nghi vấn nên kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra, phát hiện bị cáo T cầm trên tay trái 01 gói nylon bên trong có: 27 gói nylon chứa chất bột màu trắng và 01 gói nylon bên trong có 48 gói nylon chứa chất bột màu trắng. Bị cáo T khai nhận, chất bột màu trắng là ma túy của bị cáo T cất giữ để bán cho người nghiện kiếm lời. Tổ tuần tra đưa bị cáo T cùng vật chứng về Công an Phường 13 Quận 10 lập biên bản bắt người phạm tội quả tang chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 xử lý.
Lúc 19 giờ 30 phút ngày 26/4/2023, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an Quận 10 phát hiện bị cáo Tăng Ngọc P đang ngồi ở tầng trệt, nhà số Hòa H, Phường T, Quận K đóng gói, phân chia ma túy. Tiến hành thu giữ trên nền nhà, tại vị trí bị cáo Tăng Ngọc P đang ngồi 06 gói nylon chứa chất bột màu trắng; trên nền nhà trước mặt bị cáo P có 01 hộp giấy kích thước 27x25x7cm, trên hộp giấy có miếng mika kích thước 18,5x18,5cm, trên miếng mika có chất bột màu trắng và 01 cân điện tử, trên cân điện tử có chất bột màu trắng (tất cả chất bột màu trắng trên miếng mika và trên cân điện tử được cho vào 01 gói nylon); bên cạnh hộp giấy có 02 dao lam, 03 cây kéo, 20 gói nylon rỗng, 01 bình gas mini, 01 quẹt gas, 01 ống hút cắt nhọn một đầu, 12 túi nylon rỗng. Bị cáo Tăng Ngọc P khai nhận 06 gói nylon chứa bột màu trắng và các bột màu trắng nêu trên là ma túy, loại heroine; các dụng cụ trên dùng để phân chia ma túy, là của bị cáo T nhờ bị cáo P phân chia hộ ma tuý. Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an Quận 10 bàn giao bị cáo P cùng vật chứng cho Công an Phường 13 Quận 10 lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 xử lý.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 khám xét khẩn cấp chỗ ở của bị cáo Tăng Tiến T, tại nhà số: Hòa H, Phường T, Quận K thu giữ: 01 bình nhựa có gắn nỏ thủy tinh và ống hút nhựa để trên mặt tủ gỗ đặt ở sát kệ bếp, phía tường bên phải ở tầng trệt; 01 gói nylon chứa chất bột màu trắng, 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, 01 cây kéo, 02 ống hút cắt nhọn một đầu, 01 bịch nylon màu đen bên trong có 08 ống hút nhựa và 04 nỏ thủy tinh ở trong ngăn kéo tủ; 01 bịch nylon bên trong có: 01 bình ủ sữa bằng nhựa, bên trong bình ủ sữa có 02 gói nylon chứa chất bột màu trắng và 01 cân điện tử màu đen treo trên kệ bếp; Trong nồi cơm điện để sát tường trái có: 02 khay giấy chồng lên nhau, khay bên trên có 01 gói nylon chứa 08 gói nylon chứa tinh thể không màu, khay bên dưới có 01 gói nylon chứa 06 gói nylon rỗng; Trên bàn thờ có: 01 nắp tròn, bên trong có 04 gói nylon chứa chất bột màu trắng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 trưng cầu giám định chất bột màu trắng đã thu giữ của bị cáo Nguyễn Tuấn Kiệt Anh V. Kết luận giám định số 4357/KL-KTHS ngày 05/5/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh: “Chất bột màu trắng trong 02 gói nylon là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,1278 gram, loại Heroine”.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 trưng cầu giám định chất bột màu trắng đã thu giữ của bị cáo Tăng Tiến T, theo Kết luận giám định số 4354/KL-KTHS ngày 05/5/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: “Gói 1: Bột màu trắng trong 27 gói nylon (ký hiệu mẫu m1) là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 1,7705 gram, loại Heroine; Gói 2: Bột màu trắng chứa trong 48 gói nylon (ký hiệu mẫu m2) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 3,7933 gram, loại Heroine”.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 trưng cầu giám định chất bột màu trắng đã thu giữ của bị cáo Tăng Ngọc P. Kết luận giám định số 4356/KL-KTHS ngày 05/5/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: “Gói 1: Chất bột màu trắng trong 06 gói nylon là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,4133 gram, loại Heroine. Gói 2: Chất bột màu trắng trong 01 gói nylon là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,7291 gram, loại Heroine”.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 trưng cầu giám định các chất bột màu trắng đã thu giữ khi khám xét nhà số: 106/27 đường Hòa Hưng, Phường 13, Quận 10. Kết luận giám định số 4355/KL-KTHS ngày 05/5/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:
“Gói 1: Bột màu trắng trong 01 gói nylon (ký hiệu mẫu m1) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 5.2297 gram, loại Heroine. (thu giữ trong ngăn kéo tủ)
Gói 2: Bột màu trắng chứa trong 01 gói nylon (ký hiệu mẫu m2) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 3.6824 gram, loại Methamphetamine. (thu giữ trong ngăn kéo tủ)
Gói 3: Bột màu trắng trong 02 gói nylon (ký hiệu mẫu m3) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 19.1946 gram, loại Heroine. (thu giữ khi đang treo trên kệ bếp)
Gói 4: Bột màu trắng trong 08 gói nylon (ký hiệu mẫu m4) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1.4524 gram, loại Methamphetamine. (thu giữ trong nồi cơm điện)
Gói 5: Bột màu trắng trong 04 gói nylon (ký hiệu mẫu m5) là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0.2613 gram, loại Heroine. (thu giữ trên bàn thờ).”
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10, bị cáo Tăng Ngọc P khai nhận: Vào khoảng 17 giờ 20 phút ngày 26/4/2023, bị cáo P chuẩn bị đưa con đi học thì thấy bị cáo T đang ngồi ở tầng trệt nhà số: Hòa H, Phường T, Quận K phân chia ma túy. Bị cáo T đã đóng được 04 gói ma tuý, phần còn lại bị cáo T đã chia sẵn thành từng phần nhỏ. Bị cáo T nói với bị cáo P là có công việc đi ra ngoài nên sẽ chở con của bị cáo P đi học và nhờ bị cáo P tiếp tục đóng gói ma túy để bị cáo T bán, bị cáo P đồng ý. Khoảng 19 giờ 25 phút cùng ngày, bị cáo P bắt đầu đóng gói, cho các phần ma tuý đã được bị cáo T chia sẵn vào túi nylon và hàn túi lại, khi làm được 02 gói thì bị phát hiện bắt quả tang. Bị cáo P không tham gia cùng bị cáo T bán ma túy, đây là lần đầu bị cáo P phân chia ma túy cho bị cáo T và không hưởng lợi gì từ việc phân chia ma tuý. Do sống chung nhà nên bị cáo P biết bị cáo T bán ma túy. Đối với số ma túy Công an thu giữ của bị cáo T khi bắt quả tang và khi khám xét nhà thì bị cáo P không biết và không phải của bị cáo P. Khi Công an khám xét thu giữ thì bị cáo P mới biết có số ma túy trên ở trong nhà.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10, bị cáo Tăng Tiến T khai nhận phù hợp với lời khai của bị cáo P về việc nhờ bị cáo P đóng gói ma túy hộ để bị cáo T bán. Trước đây, bị cáo P chưa lần nào phụ giúp bị cáo T trong việc mua bán ma tuý. Bị cáo T còn khai nhận, để có tiền tiêu xài bị cáo T đã bán ma túy được khoảng 02 tháng. Bị cáo T mua ma túy của một người tên T (không rõ lai lịch) tại đầu hẻm Cách Mạng Tháng T, Phường J, Quận K, rồi phần chia thành các gói nhỏ để bán cho những người nghiện từ 70.000 đồng đến 80.000 đồng tại khu vực hẻm Hòa H, Quận K. Bị cáo T đã mua hai lần ma túy của người tên T, lần thứ nhất vào khoảng đầu tháng 2/2023 bị cáo T mua 6.000.000 đồng ma túy và bán hết được 7.800.000 đồng, lời được 1.800.000 đồng; lần thứ 2 vào ngày 24/4/2023, bị cáo T mua 7.000.000 đồng ma túy, rồi phân chia thành các gói nhỏ và bán được 700.000 đồng, số ma túy còn lại chưa bán được thì bị Công an phát hiện bắt giữ. Ngày 26/4/2023, bị cáo T đã bán ma túy cho nhiều người (không rõ lai lịch) và khoảng 15 giờ, bị cáo T có bán cho bị cáo V 02 gói ma tuý, giá 200.000 đồng. Bị cáo T đã bán ma túy cho bị cáo V được 02 lần, lần đầu vào khoảng đầu tháng 4/2023, bị cáo T bán cho bị cáo V 01 gói ma túy với giá 100.000 đồng, lần thứ 2 vào ngày 26/4/2023. Việc bán ma túy bị cáo T thực hiện một mình, số ma túy bị Công an thu giữ khi bắt quả tang đối với bị cáo T, bị cáo P và số ma túy khi khám xét thu giữ trong tủ gỗ, nồi cơm điện và trên bàn thờ là của bị cáo T. Riêng số ma túy Công an thu giữ trong bình ủ sữa bằng nhựa và 01 (một) cân điện tử đựng trong một túi nylon treo trên kệ bếp thì không phải của bị cáo T, khi Công an khám xét thu giữ thì bị cáo T mới biết có số ma túy trên, bị cáo T không biết số ma túy này là của ai.
Kết quả xác minh căn nhà số Hòa H, Phường T, Quận K do ông Tăng V (đã chết) là chủ sở hữu. Hiện căn nhà trên gồm các nhân khẩu: Tăng Cẩm H, đã bị Công an bắt năm 2022 về hành vi mua bán trái phép chất ma túy; Tăng Ngọc H, sinh năm: 1989; Tăng Ngọc P, sinh năm: 1989; Tăng Tiến H, sinh năm: 1992; Tăng Tiến T, sinh năm: 1993; 03 người con của Tăng Ngọc P, gồm: Tăng Minh H sinh năm: 2007, Tăng Ngọc Phương L sinh năm: 2012, Tăng Trọng T sinh năm: 2017; 03 người con của Tăng Ngọc H, gồm: Võ Thị Ngọc H sinh năm: 2009, Võ Minh B sinh năm: 2011, Tăng Ngọc Tú N sinh năm: 2022.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quân 10, Tăng Ngọc H, Tăng Tiến H và Tăng Minh H khai: Hiện đang sinh sống tại căn nhà Hòa H, Phường T, Quận K. Chị H, anh H và H không biết bị cáo T bán ma túy và không liên quan đến số ma túy Công an thu giữ của bị cáo T, khi Công an khám xét thì mới biết có số ma túy trên trong nhà.
Kết quả xét nghiệm nước tiểu của các bị cáo tại Trung tâm Y tế Quận 10: Bị cáo Nguyễn Tuấn Kiệt Anh V âm tính với chất ma túy; các bị cáo Tăng Tiến T và Tăng Ngọc P dương tính vơi chất ma túy.
Vật chứng vụ án:
+ Thu giữ của bị cáo Nguyễn Tuấn Kiệt Anh V:
- 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký của Giám định viên Trần Đình Hải và Cán bộ điều tra Bùi Hữu Hoa, bên trong chứa 0,0911 gram ma túy ở thể rắn, loại heroin. (vụ 4357(972)/23 Q10, mẫu vật hoàn lại sau giám định)
- 01 áo khoác màu xám, bị cáo V sử dụng để cất giấu ma túy.
- 01 điện thoại di động hiệu Realme, bị cáo V sử dụng vào việc mua ma túy.
- 01 xe môtô mang biển số: 59U1-544.xx, số khung: RLHJC5258D Y012194, số máy: JC52E6037477. Kết quả giám định, số khung số máy không đổi. Xác minh xe do bà Nguyễn Thị T, địa chỉ: 163/24/80A Tô Hiến Thành, Phường 13, Quận 10 đứng tên chủ sở hữu. Bà T khai mua chiếc xe trên vào năm 2013 để đi lại, đến ngày 03/5/2018 bà T làm hợp đồng ủy quyền định đoạt xe cho em trai là Nguyễn T, địa chỉ: Tô Hiến T, Phường T, Quận K. Anh Nguyễn T khai là bạn bè quan biết ngoài xã hội với bị cáo V, ngày 26/4/2023 anh T có cho bị cáo V mượn xe để đi công việc. Anh T không biết bị cáo V lấy xe để đi mua ma tuý. Bị cáo V khai: Ngày 26/4/2023, bị cáo V hỏi mượn xe của anh Nguyễn T để đi công việc, bị cáo V sử dụng xe đi mua ma túy thì anh Nguyễn T không biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 đã xử lý vật chứng, trả lại xe cho bà Nguyễn Thị T.
+ Thu giữ của bị cáo Tăng Tiến T:
- 01 (một) gói niêm phong bên ngoài có chữ ký của Giám định viên Trần Đình Hải và Cán bộ điều tra Bùi Hữu Hoa, bên trong có 1,6386 gram ma túy ở thể rắn, loại Heroine và 3,5346 gram ma túy ở thể rắn, loại Heroine. (vụ: 4354 (969)/23, Mẫu vật hoàn lại sau giám định)
- 01 xe môtô mang biển số 59BD-034.xx, có số máy: A113E-050369, số khung: SA10J-017377. Kết quả giám định số khung, số máy không đổi. Kết quả xác minh, không xác định được chủ sở hữu đăng ký sử dụng. Bị cáo Tăng Tiến T khai mua chiếc xe trên vào tháng 03/2023 của một người đàn ông không rõ lai lịch, khi mua xe không làm giấy mua bán và không có giấy tờ xe. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 đã cho đăng báo tìm chủ sở hữu nhưng chưa có kết quả.
- 01 điện thoại di động hiệu Oppo có số Imei: 8695710588592xx và số thuê bao: 09023152xx, bị cáo T sử dụng vào việc phạm tội.
- Số tiền 700.000 đồng, bị cáo T bán ma túy có được.
+ Thu giữ của bị cáo Tăng Ngọc P:
- 01 gói niêm phong, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên Trần Đình Hải và Cán bộ điều tra Bùi Hữu Hoa, bên trong có 0,3699 gram ma túy ở thể rắn, loại Heroine. (vụ: 4356 (971)/23- Gói 1, Mẫu vật hoàn lại sau giám định)
- 01 gói niêm phong, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên Trần Đình Hải và Cán bộ điều tra Bùi Hữu Hoa, bên trong có 1,5743 gram ma túy ở thể rắn, loại Heroine. (vụ: 4356 (971)/23 - Gói 2, Mẫu vật hoàn lại sau giám định).
- 01 hộp giấy kích thước 27x25x7cm, 01 miếng mika kích thước 18,5x18,5cm; 01 cân điện tử; 02 dao lam, 03 kéo, 20 gói nylon rỗng, 01 bình gas mini, 01 quẹt gas, 01 ống hút cắt nhọn một đầu, 12 túi zíp nylon rỗng, là các đồ vật bị cáo T đưa cho bị cáo P dùng để phân chia, đóng gói ma túy.
+ Thu giữ khi khám xét căn nhà số Hòa H, Phường T, Quận K:
- 01 (một) gói niêm phong, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên Trần Đình Hải và Cán bộ điều tra Bùi Hữu Hoa, bên trong có 5,1589 gram ma túy ở thể rắn, loại Heroine, thu giữ trong ngăn kéo tủ. Bị cáo T khai nhận là ma túy của bị cáo T cất giữ để bán kiếm lời. (vụ: 4355 (970)/23- Gói 1, Mẫu vật hoàn lại sau giám định)
- 01 (một) gói niêm phong, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên Trần Đình Hải và Cán bộ điều tra Bùi Hữu Hoa, bên trong có 3,5576gram ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine, thu giữ trong ngăn kéo tủ. Bị cáo T khai là ma túy của bị cáo T cất giữ để bán kiếm lời (vụ: 4355 (970)/23- Gói 2, Mẫu vật hoàn lại sau giám định).
- 01 (một) gói niêm phong, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên Trần Đình Hải và Cán bộ điều tra Bùi Hữu Hoa, bên trong có 1,3171 gram ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine, thu giữ trong nồi cơm điện. Bị cáo T khai là ma túy của bị cáo T cất giữ để bán kiếm lời. (vụ: 4355 (970)/23- Gói 4, Mẫu vật hoàn lại sau giám định).
- 01 (một) gói niêm phong, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên Trần Đình Hải và Cán bộ điều tra Bùi Hữu Hoa, bên trong có 0,2171 gram ma túy ở thể rắn, loại Heroine, thu giữ trên bàn thờ. Bị cáo T khai là ma túy của bị cáo T cất giữ để bán kiếm lời. (vụ: 4355 (970)/23- Gói 5, Mẫu vật hoàn lại sau giám định).
- 01 bình nhựa có gắn nỏ thủy tinh và ống hút nhựa, bị cáo T khai dùng để sử dụng ma túy.
- 01 cây kéo; 02 đoạn ống hút nhựa cắt nhọn một đầu; 01 nắp tròn; 01 gói nylon chứa 06 gói nylon rỗng; 01 bịch nylon màu đen, bên trong có: 08 ống hút nhựa bị cáo T sử dụng để phân chia ma túy.
- 04 ống thủy tinh, bị cáo T khai mua cất giữ để khi có việc cần dùng sẽ lấy ra dùng, không có mục đích để sử dụng ma túy.
Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 có Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10 chờ xử lý.
- 01 (một) gói niêm phong, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên Trần Đình Hải và Cán bộ điều tra Bùi Hữu Hoa, bên trong có 18,9444 gram ma túy ở thể rắn, loại Heroine (vụ: 4355 (970)/23- Gói 3, Mẫu vật hoàn lại sau giám định); 01 cân điện tử, để trong một bao nylon treo trên kệ bếp, thu giữ khi khám xét nhà số Hòa H, Phường T, Quận K, hiện chưa xác định là của ai. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 đã khởi tố vụ án hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” để điều tra làm rõ, xử lý sau.
Tại bản Cáo trạng số 102/CT-VKSQ10 ngày 19 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố:
- Bị cáo Tăng Tiến T về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b, p khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Bị cáo Tăng Ngọc P về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Bị cáo Nguyễn Tuấn Kiệt Anh V về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).
Tại phiên tòa hôm nay:
- Các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo đúng theo nội dung bản Cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đối với xã hội, và nêu lên những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải); đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Tăng Tiến T, xử phạt bị cáo Tăng Tiến T từ 11 năm đến 12 năm tù; áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Tăng Ngọc P, xử phạt bị cáo Tăng Ngọc P từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Tuấn Kiệt Anh V, xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn Kiệt Anh V từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; miễn phạt tiền bổ sung và đề nghị xử lý vật chứng.
- Ý kiến của các bị cáo: Không có ý kiến gì tranh luận.
- Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên thu thập; do bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong vụ án đều hợp pháp.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung mà bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Nhận định hành vi và điều khoản xét xử:
Tại Cơ quan điều tra, cũng như trước phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình, qua lời khai nhận của các bị cáo, đối chiếu với lời khai của người làm chứng, vật chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án là phù hợp, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định bị cáo Tăng Tiến T đã có hành vi mua bán trái phép chất ma tuý nhiều lần và có hai chất ma tuý trở lên trong đó có khối lượng 13,325 gram, loại Heroin và 5,1348 gram, loại Methamphetamin; bị cáo Tăng Ngọc P có hành vi giúp sức đóng gói 2,1424 gram ma tuý, loại Heroin cho bị cáo T bán; bị cáo Nguyễn Tuấn Kiệt Anh V có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý có khối lượng 0,1278 gram, loại Heroin. Do vậy, bị cáo Tăng Tiến T bị truy tố và xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b, p khoản 2 Điều 251; bị cáo Tăng Ngọc P bị truy tố và xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251; bị cáo Nguyễn Tuấn Kiệt Anh V bị truy tố và xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Bị cáo P khai trước đó biết bị cáo T bán ma túy trái phép cho người nghiện nhưng do bị cáo T và bị cáo P là anh em ruột, do đó không xử lý bị cáo P về tội “Không tố giác tội phạm”. Ngoài số ma túy bị cáo T đưa cho bị cáo P để phân chia, đóng gói, bị cáo P không biết Tài cất giữ số ma túy phát hiện khi khám xét nên không có căn cứ để xử lý Phương liên quan đến số ma túy trên.
Đối với chị Tăng Ngọc Hiền, anh Tăng Tiến Hùng không biết bị cáo T bán và cất giữ ma túy trong nhà nên không có hành vi phạm tội. Đối với người đàn ông tên Thảo bán ma túy cho bị cáo T hiện không rõ lai lịch, khi nào làm rõ được xử lý sau.
Đối với 19,1946 gam ma túy, loại heroin thu giữ trong bình ủ sữa treo ở bếp nhà số 106/27 Hòa Hưng, Quận 10 thu giữ khi khám xét, hiện chưa xác định được là của ai. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 10 đã tách ra, khởi tố vụ án hình sự riêng để tiếp tục điều tra làm rõ.
Việc áp dụng hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm nghiêm trọng đến chế độ độc quyền của nhà nước về quản lý chất ma tuý, gây tác hại cho sức khoẻ, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội, an ninh quốc gia. Do vậy, hành vi phạm tội của bị cáo lần này cần phải bị xử phạt nghiêm minh bằng luật hình tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo gây ra, cụ thể cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo thành người tốt cho xã hội, đồng thời cũng để răn đe, giáo dục đối với những người thực hiện hành vi tương tự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tệ nạn tại địa phương. Ngoài ra áp dụng khoản 5 Điều 249, 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) phạt bổ sung các bị cáo một số tiền nộp ngân sách nhà nước.
Về tình tiết tăng nặng: Không có
Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:
Đối với 01 (một) gói niêm phong bên trong có 0,0911 gram ma túy ở thể rắn, loại Heroine; 01 (một) gói niêm phong bên trong có 1,6386 gram ma túy ở thể rắn, loại Heroine và 3,5346 gram ma túy ở thể rắn, loại Heroine; 01 gói niêm phong bên trong có 0,3699 gram ma túy ở thể rắn, loại Heroine; 01 gói niêm phong, bên trong có 1,5743 gram ma túy ở thể rắn, loại Heroine; 01 (một) gói niêm phong, bên trong có 5,1589 gram ma túy ở thể rắn, loại Heroine; 01 (một) gói niêm phong, bên trong có 3,5576gram ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine; 01 (một) gói niêm phong, bên trong có 1,3171 gram ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine; 01 (một) gói niêm phong bên trong có 0,2171 gram ma túy ở thể rắn, loại Heroine. Xét thấy đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành. Do vậy Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu và tiêu hủy.
Đối với 01 chiếc xe môtô mang biển số 59BD-034.xx, có số máy: A113E-050369, số khung: SA10J-017377. Kết quả giám định số khung, số máy không đổi. Kết quả xác minh, không xác định được chủ sở hữu đăng ký sử dụng. Bị cáo Tăng Tiến T khai mua chiếc xe trên vào tháng 03/2023 của một người đàn ông không rõ lai lịch, khi mua xe không làm giấy mua bán và không có giấy tờ xe. Xét thấy đây là phương tiện của bị cáo sử dụng nhưng hiện không xác định ai là chủ sở hữu nên Hội đồng xét xử quyết định giao Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10 thông báo trong thời hạn 01 năm, kể từ ngày đăng báo để tìm chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp. Hết thời hạn 01 năm mà không tìm được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp đối với chiếc xe trên thì tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Realme và 01 điện thoại di động hiệu Oppo có số Imei: 8695710588592xx và số thuê bao: 09023152xx thu giữ của bị cáo V, bị cáo T. Hội đồng xét xử xét thấy đây là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Đối với số tiền 700.000 đồng thu giữ của bị cáo T và số tiền 1.800.000 đồng là số tiền bị cáo T khai số tiền lời do bán ma tuý mà có được. Hội đồng xét xử xét thấy đây là số tiền có được do phạm tội mà có và thu lợi bất chính nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Đối với 01 hộp giấy kích thước 27x25x7cm, 01 miếng mika kích thước 18,5x18,5cm; 01 cân điện tử; 02 dao lam, 03 kéo, 20 gói nylon rỗng, 01 bình gas mini, 01 quẹt gas, 01 ống hút cắt nhọn một đầu, 12 túi zíp nylon rỗng; 01 bình nhựa có gắn nỏ thủy tinh và ống hút nhựa; 01 cây kéo; 02 đoạn ống hút nhựa cắt nhọn một đầu; 01 nắp tròn; 01 gói nylon chứa 06 gói nylon rỗng; 01 bịch nylon màu đen, bên trong có: 08 ống hút nhựa và 04 ống nỏ thủy tinh, 01 áo khoác màu xám. Xét thấy đây là các tài sản liên quan đến việc phạm tội nhưng không có giá trị nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu và tiêu hủy.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm b, p khoản 2, 5 Điều 251; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Tăng Tiến T;
- Căn cứ vào khoản 1, 5 Điều 251; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Tăng Ngọc P;
- Căn cứ vào điểm c khoản 1, 5 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Tuấn Kiệt Anh V;
- Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và Điều 228 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên bố: Các bị cáo Tăng Tiến T, Tăng Ngọc P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn Kiệt Anh V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Tăng Tiến T 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/4/2023.
Xử phạt bị cáo Tăng Ngọc P 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/4/2023.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn Kiệt Anh V 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/4/2023.
Phạt bổ sung đối với bị cáo Tăng Tiến T số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng nộp ngân sách nhà nước.
Phạt bổ sung đối với bị cáo Tăng Ngọc P số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng nộp ngân sách nhà nước.
Phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Tuấn Kiệt Anh V số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng nộp ngân sách nhà nước.
Giao cho Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục thông báo với thời hạn 01 năm đối với chiếc xe môtô mang biển số 59BD-034.xx, có số máy: A113E-050369, số khung: SA10J-017377 để chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp nếu có đến nhận. Hết thời hạn 01 năm kể từ ngày đăng báo mà không có ai là chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp liên hệ nhận thì tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
Tịch thu và tiêu hủy đối với 01 (một) gói niêm phong bên trong có 0,0911 gram ma túy ở thể rắn, loại Heroine; 01 (một) gói niêm phong bên trong có 1,6386 gram ma túy ở thể rắn, loại Heroine và 3,5346 gram ma túy ở thể rắn, loại Heroine; 01 gói niêm phong bên trong có 0,3699 gram ma túy ở thể rắn, loại Heroine; 01 gói niêm phong, bên trong có 1,5743 gram ma túy ở thể rắn, loại Heroine; 01 (một) gói niêm phong, bên trong có 5,1589 gram ma túy ở thể rắn, loại Heroine; 01 (một) gói niêm phong, bên trong có 3,5576gram ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine; 01 (một) gói niêm phong, bên trong có 1,3171 gram ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine; 01 (một) gói niêm phong bên trong có 0,2171 gram ma túy ở thể rắn, loại Heroine; 01 hộp giấy kích thước 27x25x7cm, 01 miếng mika kích thước 18,5x18,5cm; 01 cân điện tử; 02 dao lam, 03 kéo, 20 gói nylon rỗng, 01 bình gas mini, 01 quẹt gas, 01 ống hút cắt nhọn một đầu, 12 túi zíp nylon rỗng; 01 bình nhựa có gắn nỏ thủy tinh và ống hút nhựa; 01 cây kéo; 02 đoạn ống hút nhựa cắt nhọn một đầu; 01 nắp tròn; 01 gói nylon chứa 06 gói nylon rỗng; 01 bịch nylon màu đen, bên trong có: 08 ống hút nhựa và 04 ống nỏ thủy tinh, 01 áo khoác màu xám.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước đối với 01 điện thoại di động hiệu Oppo có số Imei: 8695710588592xx và số thuê bao: 09023152xx; 01 điện thoại di động hiệu Realme và số tiền 700.000 (bảy trăm nghìn) đồng.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 1.800.000 (một triệu tám trăm nghìn) đồng là số tiền thu lợi bất chính, bị cáo T đã tiêu xài hết nên có trách nhiệm giao nộp lại.
(Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 19/10/2023 giữa Công an Quận 10 và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10).
Buộc mỗi bị cáo Tăng Tiến T, Tăng Ngọc P, Nguyễn Tuấn Kiệt Anh V chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án;
Thời hạn kháng cáo là 15 ngày; đối với các bị cáo có mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày tuyên án./ THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| THẨM PHÁN -CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |