vanban.org

Bản án 133/2023/HS-PT — Hình sự

TAND TP Đà Nẵng Tuyên án 14/08/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 14/08/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn H; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 36/2023/HS-ST ngày 24/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện H, thành phố Đà Nẵng về biện pháp chấp hành hình phạt đối với bị cáo Nguyễn H.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn H 09 (chín) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm ngày 14/8/2023. Tuyên giao bị cáo Nguyễn H về UBND xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng để giám sát, g… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn H - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn H; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 36/2023/HS-ST ngày 24/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện H, thành phố Đà Nẵng về biện pháp chấp hành hình phạt đối với bị cáo Nguyễn H.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 260 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 133/2023/HS-PT
Ngày 14/8/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Thúy Năng

Các Thẩm phán:

Ông Ngô Hà Nam

Ông Trần Hữu Vinh

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Na- Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bạch Tuyết - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 118/2023/TLPT-HS ngày 29 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn H, do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 36/2023/HS-ST ngày 24/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện H, thành phố Đà Nẵng.

Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn H, tên gọi khác: không; sinh ngày 05 tháng 01 năm 1989, tại tỉnh Quảng Nam. Nơi đăng ký Hộ khẩu thường trú: xã S, huyện Y, tỉnh Quảng Nam; chỗ ở hiện nay: xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn X (sinh năm 1960) và bà Huỳnh T (sinh năm 1961); có vợ Nguyễn T (sinh năm 1989); có hai con, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2017.

Tiền án, tiền sự: Chưa.

Bị cáo hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 34 phút ngày 01/12/2022, Nguyễn H điều khiển xe mô tô BKS 92T1-XXX.02 đi trên đường liên thôn thuộc thôn A, huyện H, TP. Đà Nẵng theo hướng từ Hoà Khánh về Hoà Ninh với tốc độ khoảng 40km/h – 50km/h. Khi đến khu vực nơi giao nhau giữa đường liên thôn A với liên thôn B là khu vực đông dân cư, tầm nhìn bị hạn chế nhưng bị cáo không chú ý quan sát, không giảm tốc độ an toàn khi vào đường giao nhau nên đã điều khiển xe mô tô tông vào xe đạp của ông Lê B điều khiển đang đi từ trong đường bê tông thuộc thôn A đi ra, dẫn đến tai nạn giao thông. Hậu quả: Ông B té ngã xuống đường, sau đó tử vong tại Bệnh viện Đa khoa Đà Nẵng. Nguyễn H bị thương nhẹ và từ chối giám định thương tích; xe mô tô BKS 92T1 – XXX.02 và xe đạp bị hư hỏng.

Tại bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số 11/KL-KTHS ngày 27/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng kết luận: Ông Lê B tử vong do đa chấn thương.

* Tang vật tạm giữ:

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade BKS 92T1-XXX.02;

- 01 xe đạp;

- 01 (một) Giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Nguyễn H.

* Kết quả khám nghiệm hiện trường:

Hiện trường xảy ra vụ tai nạn giao thông là trên đường liên thôn A đi thôn B thuộc địa phận thôn A, xã H, huyện H, TP. Đà Nẵng. Đường liên thôn A rộng 7m được thảm nhựa bằng phẳng; đường liên thôn B rộng 4,6 m được thảm bê tông bằng phẳng.

Chọn trụ điện chiếu sáng ký hiệu CS28DT602 nằm ở lề đường bên trái đường liên thôn A theo hướng Hòa Khánh đi Hòa Ninh. Tất cả các số đo đều được kéo thẳng vuông góc vào mép đường bên phải của đường liên thôn A theo hướng Hòa Khánh đi Hòa Ninh.

Xe đạp (kí hiệu: 1) nằm ngã trên mặt đường nhựa, đầu xe quay về hướng Hòa Ninh, phần bên phải xe tiếp xúc với mặt đường. Trục bánh trước xe cách mép đường bên phải là 1,1 mét; trục bánh sau xe cách mép đường bên phải là 1,6 mét.

Xe mô tô 92T1-XXX.02 (kí hiệu: 2) ngã nằm trên mặt đường nhựa đầu xe quay về hướng lề đường bên phải của đường liên thôn A, phần bên phải xe tiếp xúc với mặt đường. Trục bánh trước xe cách mép đường bên phải là 4,75 mét. Trục bánh sau cách mép đường bên phải là 3,4 mét và cách trục bánh sau xe đạp là 5 mét. Trục bánh trước xe cách trụ chiếu sáng ký hiệu CS28ĐT602 là 5,5 mét.

Vết xước nhựa đường dài không liên tục là 2,85 mét (kí hiệu: 3) chiều từ Hòa Khánh đi Hòa Ninh. Đầu vết xước cách mép đường bên phải là 2,8 mét. Cuối vết xuớc trùng với vị trí gác để chân sau bên phải xe mô tô 92T1-XXX.02.

Vết xước và su đen dài không liên tục là 5,95 mét (kí hiệu: 4) chiều từ Hòa Khánh đi Hòa Ninh. Đầu vết xước và su lốp cách mép đường bên phải là 2,7 mét và cách đầu vết xước (3) là 2,4 mét. Cuối vết xước và su đen cách mép đường bên phải là 0,7 mét.

Vết su lốp dài liên tục 0,38 mét chiều từ Hòa Khánh đi Hòa Ninh. Dầu vết su lốp cách mép đường bên phải là 1,9 mét. Cuối vết su lốp cách mép đường bên phải là 1,93 mét và cách đầu vết xước và su lốp (4) là 1,7 mét.

Hiện trường để lại vết máu có kích thước (0,4x0,2) mét và cách trục bánh sau xe đạp là 2,8 mét.

* Kết quả khám nghiệm phương tiện:

Xe mô tô BKS 92T1-XXX.02:

+ Phần phía trước bên trái của chắn bùn trước có một vết gãy nhựa kích thước điểm thấp nhất cách mặt đất là 44cm; 10cm,

+ Phần ốp nhựa phía trước phân chia hai đèn pha của xe có một vết gãy nhựa kích thước 02 cm.

+ Phần manh chắn gió bên phải có vết trầy xước nhựa kích thước 17cm.

Xe đạp của ông Lê B :

+ Phần đầu mút tay cầm bên trái của tay lái xe đạp có vết trầy xước su kích thước 04 cm. Phần đầu mút tay cầm bên phải của tay lái xe đạp có vết trầy xước su kích thước 5,5cm; lộ ra phần trầy xước kim loại kích thước 0,5cm;

+ Càng xe phía trước bên phải bị bung ra khỏi vị trí ban đầu của trục bánh xe trước;

+ Phần giữa khung sườn của xe đạp (khung kim loại phía dưới) có vết su màu đen kích thước 17cm.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 36/2023/HS-ST ngày 24/5/2023, Tòa án nhân dân huyện H, Tp. Đà Nẵng đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn H phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật hình sự. Tuyên xử:

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn H 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Trong hạn luật định ngày 26 tháng 5 năm 2023, bị cáo Nguyễn H có đơn kháng cáo với nội dung: xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án không giam giữ.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo Nguyễn H xác định bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS là đúng pháp luật, không oan. Bị cáo kháng cáo với nội dung xin HĐXX cấp phúc thẩm xem xét cho bị cáo hưởng án không giam giữ, để bị cáo đi làm nuôi con và chăm sóc ba mẹ già.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:

Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn H theo đúng thủ tục và trong thời hạn kháng cáo nên đảm bảo hợp lệ.

Về nội dung: Bản án sơ thẩm số 36/2023/HS-ST ngày 24/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện H, thành phố Đà Nẵng đã xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS và áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 BLHS, xử phạt bị cáo với mức án 09 tháng tù là phù hợp. Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ nào mới, nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ Luật tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của bị cáo, người bị hại và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn H đã khai nhận: Vào khoảng 15 giờ 34 phút ngày 01/12/2022, bị cáo điều khiển xe mô tô BKS 92T1-XXX.02 lưu thông trên đường liên thôn A, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng với tốc độ khoảng 40 đến 50 km/h, theo hướng Hòa Sơn đi Hòa Ninh là khu vực đông dân cư, nhưng do không chú ý quan sát, không giảm tốc độ khi vào đường giao nhau, nên đã tông vào xe đạp của ông Lê Bđang đi từ trong đường bê tông thuộc thôn B đi ra, dẫn đến tai nạn giao thông.

Hậu quả làm ông Lê B té ngã xuống đường, sau đó tử vong. Tại bản Kết luận giám định pháp về tử thi số 11/KL-KTHS ngày 27/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng kết luận nguyên nhân chết của ông Lê B do đa chấn thương.

Vì vậy, bản án hình sự sơ thẩm số 36/2023/HS-ST ngày 24/5/2023 của Tòa án nhân huyện H, thành phố Đà Nẵng đã xét xử bị cáo về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét nội dung kháng cáo của bị cáo về việc xin hình phạt không giam giữ, HĐXX nhận thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông, gây thiệt hại đến tính mạng của người khác. Bản án sơ thẩm cũng đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội, đồng thời áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự cho bị cáo, xử phạt bị cáo với mức án 09 tháng tù giam là có phần nghiêm khắc. Vì các lẽ sau:

Về nguyên nhân tai nạn được xác định như sau:

Đối với bị cáo Nguyễn H: Không tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường và không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi xe tầm nhìn bị hạn chế và khu vực đông dân cư, đã vi phạm khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ; khoản 2, khoản 5 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ giao thông vận tải.

Đối với ông Lê B, khi tham gia giao thông, đạp xe đi trong đường bê tông thôn B (đường nhánh) đi ra đường liên thôn A (đường chính) không nhường đường cho xe của bị cáo đang đi trên đường chính, nên cũng vi phạm quy định tại khoản 3 Điều 24 Luật giao thông đường bộ, cũng có một phần lỗi, bản án sơ thẩm chưa nhận định nạn nhân cũng có một phần lỗi, là có thiếu sót, cần rút kinh nghiệm.

Mặt khác, trong quá trình điều tra, đại diện gia đình nạn nhân đã có đơn xin bãi nại, xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tại giai đoạn phúc thẩm, đại diện gia đình nạn nhân tiếp tục có đơn xin cho bị cáo giảm nhẹ hình phạt về mức án tù treo.

Ngoài ra, bản thân bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội, hiện nuôi hai con còn nhỏ, có nơi cư trú rõ ràng, đủ điều kiện hưởng án treo. HĐXX căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 BLTTHS, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa một phần Bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt nhưng chuyển cho bị cáo được hưởng án treo, cũng có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Do kháng cáo được chấp nhận, nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào: Điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của BLTTHS 2015.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn H; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 36/2023/HS-ST ngày 24/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện H, thành phố Đà Nẵng về biện pháp chấp hành hình phạt đối với bị cáo Nguyễn H.

Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 và Điều 65 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn H 09 (chín) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm ngày 14/8/2023.

Tuyên giao bị cáo Nguyễn H về UBND xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án cho hưởng án treo.

2. Về án phí hình sự phúc thẩm:

Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo Nguyễn H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ