vanban.org

Bản án 133/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Ngô Quyền, TP. Hải Phòng Tuyên án 30/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong số 346MT/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định…

Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Đỗ Xuân T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. Về quyền … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Xuân T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong số 346MT/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định…
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NGÔ QUYỀN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 133/2022/HS-ST
Ngày 30-11-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Huyền

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lý Thị Thiên Nga

Bà Hà Thị Mão

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Thu Trang - Thư ký Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Trịnh Thị Nhật Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến với điểm cầu Trung tâm tại Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam - Công an thành phố Hải Phòng đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 124/2022/TLST-HS ngày 12 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 157/2022/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:

Đỗ Xuân T sinh ngày 17 tháng 01 năm 198X, tại Hải Phòng. Nơi ĐKHKTT: Số 7/100/229 M, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi tạm trú: Số 59/123 L, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Xuân Yêm và bà Triệu Thị Thê; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Tại Bản án số 184 ngày 08/12/2016 Tòa án nhân dân quận Lê Chân xử 48 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” (đã xóa án tích); bị bắt, tạm giữ ngày 16/7/2022; tạm giam ngày 18/7/2022; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 18 giờ 20 phút ngày 15/7/2022, Công an phường Cầu Đất kiểm tra hành chính, phát hiện Đỗ Xuân T có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy tại nhà số 59/123 Lương Khánh Thiện, phường Cầu Đất, quận Ngô Quyền, Hải Phòng. Cơ quan Công an đã thu giữ vật chứng, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, dẫn giải đối tượng về trụ sở Công an phường.

Vật chứng thu giữ: 02 gói giấy màu trắng kích thước khoảng 01 x 02 cm bên trong chứa chất bột màu trắng thu tại ngăn kéo tủ gỗ tầng 2.

Tại Cơ quan điều tra, Đỗ Xuân T khai nhận:

Do bản thân nghiện ma túy nên T nảy sinh ý định mua ma túy heroine về sử dụng. Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 15/7/2022, T một mình đi bộ từ nhà đến khu vực đường tàu Trần Nguyên Hãn, quận Lê Chân, Hải Phòng để tìm mua ma túy. Tại đây, T gặp và hỏi mua của một người đàn ông không quen biết 200.000 đồng ma túy heroine. Người đàn ông này đồng ý, nhận tiền rồi bán cho T 02 gói giấy kích thước mỗi gói khoảng 01 x 02 cm bên trong chứa ma túy heroine. Mua được ma túy, T mang về nhà ở địa chỉ 59/123 Lương Khánh Thiện, Cầu Đất, Ngô Quyền, Hải Phòng cất giấu vào trong ngăn kéo tủ gỗ trên tầng 2 phòng ngủ của T để khi nào cần sẽ mang ra sử dụng. Hồi 18 giờ 20 phút cùng ngày, Công an phường Cầu Đất kiểm tra hành chính, bắt quả tang.

Xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu bằng test thử, Đỗ Xuân T dương tính với Morphine (Heroine).

Theo Kết luận giám định số 346 ngày 18/7/2022, chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,23 gam là loại Heroine.

Về vật chứng: 01 phong bì niêm phong số 346MT/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

Tại Bản Cáo trạng số 132/CT-VKSNQ ngày 11/10/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Đỗ Xuân T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo Đỗ Xuân T khai nhận hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Kiểm sát viên tại phiên toà, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Đỗ Xuân T với mức án từ 24 đến 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong số 346MT/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định. Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

- Về tội danh:

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, nội dung bản cáo trạng và các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ 20 phút ngày 15/7/2022, tại nhà của T ở số 59/123 Lương Khánh Thiện, phường Cầu Đất, quận Ngô Quyền, Hải Phòng, Nguyễn Xuân T có hành vi cất giữ trái phép 0,23 gam heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân. Như vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng với quy định của pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma tuý, trật tự trị an xã hội, làm phát sinh nhiều loại tội phạm hình sự khác. Bị cáo có 01 tiền án số 184 ngày 08/12/2016 mặc dù đã được xóa án nhưng thể hiện bị cáo là người có nhân thân xấu. Vì vậy cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe phòng ngừa tội phạm.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về hình phạt bổ sung:

Do bị cáo không có tài sản và thu nhập nên không cần thiết bắt bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

- Về việc xử lý vật chứng:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong số 346MT/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định.

- Về án phí:

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Về quyền kháng cáo đối với bản án:

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho T tại khu vực đường tàu Trần Nguyên Hãn, quận Lê Chân, Hải Phòng chưa xác định được căn cước địa chỉ. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ, có căn cứ sẽ xử lý sau nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Đỗ Xuân T 24 (hai mươi tư) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 16/7/2022.

- Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong số 346MT/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/10/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

- Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Đỗ Xuân T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo Đỗ Xuân T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ