vanban.org

Bản án 133/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 08/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức D. phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 3 Điều 54; khoản 1 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức D. 09 (Chín) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án 08-9-2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về điều khiểm phiuwowng tiện giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức D. phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TP
TỈNH BT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 133/2022/HS-ST.
Ngày: 08-9-2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TP - TỈNH BT

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Huyền

Các Hội thẩm nhân dân: + Bà Trần Thị Hà.

+ Ông Nguyễn Hữu Đệ.

-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiêm Uyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện TP.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TP tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thìn – Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TP, tỉnh BT xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 103/2022/TLST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 115/2022/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2022, đối với bị cáo:

Nguyễn Đức D., sinh ngày 03-8-1995 tại tỉnh NĐ.

Hộ khẩu thường trú: Xóm Hiếu Minh, xã Gia Thịnh, huyện GT, tỉnh NĐ; chỗ ở hiện nay: Số 39 đường 1B, khu dân cư Vĩnh Lộc, phường BHH B, quận BT, thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: Lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Dũng, sinh năm 1971 và bà Trần Thị Láng, sinh năm 1973; vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại, có mặt.

- Bị hại: Nguyễn Thị B, sinh năm 1961 (Đã chết);

Đại diện hợp pháp của bị hại: Lê Văn H, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn VS, xã VH, huyện TP, BT. (Vắng mặt)

- Người tham gia tố tụng khác:

*Người làm chứng: Lê Chí Tuyển, sinh năm 1996; (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 04 giờ 25 phút, ngày 28-4-2022, Nguyễn Đức D. (có giấy phép lái xe hạng C) điều khiển xe ô tô biển số 51C-164.96 trên đường Quốc lộ 1A, hướng Phan Rang-Phan Thiết theo lộ trình Bình Định về thành phố Hồ Chí Minh. Khi đến thôn Vĩnh Tiến, xã Vĩnh Tân, huyện TP, tại Km1599+50m, khi Duy cho xe tấp vào lề bên phải đường thì xảy ra va quẹt với xe đạp do bà Nguyễn Thị B điều khiển đang đi bên trong lề đường phải làm bà Bạc té ngã xuống đường, bị trọng thương, được đưa đi cấp cứu nhưng đã tử vong tại bệnh viện.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 459/2022/PY-PC09 ngày 19-5-2022 của Phòng kỹ thuật hình sự-Công an tỉnh BT kết luận nguyên nhân chết của bà Nguyễn Thị B: Shock chấn thương không hồi phục do chấn thương sọ não.

Khám nghiệm hiện trường xác định: Hiện trường của đoạn đường xảy ra tai nạn trong khu vực đường thẳng, không có cọc tiêu, có biển báo hiệu giao nhau với đường không ưu tiên và đường người đi bộ cắt ngang, có đèn chiếu sáng công cộng, có dân cư sinh sống, có biển báo hạn chế tốc độ. Mặt đường chính rải nhựa bằng phẳng, có dải phân cách cố định, phân chia hai chiều đường xe chạy riêng biệt, có kẻ vạch phân làn đường cho từng loại xe bằng sơn trắng (đường liền, đường đứt khúc). Khu vực xảy ra tai nạn có kẻ vạch sơn trắng cho người đi bộ qua đường và điểm mở của dải phân cách rộng 35,20m. Hiện trường xảy ra tai nạn trên phần đường bên phải theo hướng Phan Rang-Phan Thiết, có 03 làn đường theo thứ tự từ trong ra ngoài làn 01 rộng 02,40m, làn 02 rộng 03,50m và làn 03 rộng 03,50m. Chọn mép đường bên phải làm lề chuẩn, chọn trụ điện số 477PR-5F/469/01 làm điểm cố định của hiện trường.

- Xe đạp (1) nằm trên lề đất bên ngoài lề chuẩn của đường ngã sang trái, đầu xe chếch về hướng Phan Rang. Trục bánh trước gãy rời khỏi vị trí, nằm trên lề đường bên ngoài lề chuẩn. Tâm trục bánh trước đến đầu thanh kim loại bên trái gắn trục bánh trước là 0,70m, đến lề chuẩn là 02m; tâm trục bánh sau đến lề chuẩn là 0,80m.

- Vết máu loang (2) nằm trên lề đất bên ngoài lề chuẩn, có kích thước 0,35m x 0,30m. Từ tâm vết máu đến lề chuẩn là 03,76m, đến trục bánh trước xe đạp là 07,60m;

- Xe ô tô tải biển số 51C-164.96 (3) dừng trên phần đường bên phải, đầu xe hướng Phan Thiết, trục bánh trước và trục bánh sau bên phải của xe nằm trên lề đường bên ngoài lề chuẩn; từ trục bánh trước bên phải đến lề chuẩn là 0,4m; từ trục bánh sau bên phải đến trục bánh sau xe đạp là 87,80m; từ trục bánh sau bên trái đến trục bánh sau xe đạp là 88m.

- Vết lún (4) nằm trên lề đất bên ngoài lề chuẩn, liên tục, dài 0,33m. Từ đầu vết lún đến lề chuẩn 01,30m; cuối vết lún tại vị trí thanh kim loại bên trái gắn trục bánh trước xe đạp và đến lề chuẩn là 01,30m;

- Từ trụ điện 477PR-5F/469/01 đến tâm trục bánh trước xe đạp là 7,00m, đến tâm trục bánh sau là 6,60m, đến tâm vết máu là 8,00m.

Khám nghiệm phương tiện:

- Xe ô tô biển số 51C-164.96: Kích thước bao xe (5,990 x 1,910 x 2,850)m; gương chiếu hậu bên trái gãy vỡ rơi khỏi vị trí, tâm cách mặt đất 01,50m; mặt nạ trước xe góc bên phải móp méo đưa từ trước ra sau, kích thước (30 x 23)cm, thụng sâu 01cm; cụm đèn xinhan, đèn chiếu sáng phía trước, chóa đèn phía trước bên phải bể vỡ kích thước (40 x 32)cm, tâm cách mặt đất 70cm; góc bên phải cảng trước xe nứt bể, móp thụng đưa từ trước ra sau, kích thước (55 x 21)cm; mặt ngoài của xe phía trước bên phải có dấu vết trầy tróc sơn rải rác không đều, kích thước (62 x 25)cm, tâm cách mặt đất 47cm; đèn sương mù phía trước bên phải gãy rơi khỏi vị trí; mặt nạ trước đầu xe bung hở, kích thước (87 x 01)cm; mặt ngoài lớp xe trước bên phải có dấu vết bào mòn cao su kích thước (25 x 10)cm;

- Xe đạp: Đầu tay lái bên phải có dấu vết bào mòn cao su dính đất, kích thước (02 x 01)cm; bánh trước gãy rơi khỏi vị trí: giỏ xe phía trước móp méo, biến dạng; chảng ba gãy gập, đưa từ sau ra trước; chắn bùn phía trước xe móp méo, cong đưa từ phải qua trái, từ dưới lên; cụm thân xe móp méo, cong vênh đưa từ phải qua trái, kích thước (85 x 40)cm; yên xe gãy rơi khỏi vị trí; yên sau xe gãy cong biến dạng kích thước (50 x 30)cm; lốp xe bánh sau có dấu vết bào mòn cao su kích thước (06 x 03)cm; niềng bánh sau cong vênh đưa từ phải qua trái; giò đạp xe gãy cong, đưa từ phải qua trái chạm vào bánh sau xe và thân xe.

Tại kết luận số 499/KL-KTHS ngày 31-5-2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh BT, kết luận: Xe ô tô biển số 51C-164.96 không phát hiện sự cố hư hỏng kỷ thuật, đủ điều kiện hoạt động. Qua trích xuất dữ liệu của xe 51C-164.96 trước và sau khi xảy ra tai nạn giao thông, xe đã di chuyển với tốc độ 49km/h thì dừng đột ngột về mức 0km/h.

Về thu giữ đồ vật, tài liệu và xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện TP đã thu giữ xe ô tô tải biển số 51C-164.96; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe 51C-164.96; 01 thiết bị giám sát hành trình gắn trên xe, có tên đăng nhập 51C16496, địa chỉ truy cập www.gpsgiathanh.com, mật khẩu 123456; đã chuyển toàn bộ đến Phòng Cảnh sát giao thông-Công an tỉnh BT để xử lý về việc ông Nguyễn Thành Nhân mua xe của ông Đặng Ngọc Khuê nhưng chưa làm thủ tục chuyển quyền theo quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Đức D. đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng) và đại diện gia đình bị hại có đơn đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự.

Tại Bản Cáo trạng số 106/CT-VKSTP-HS, ngày 29 tháng 7 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TP đã truy tố Nguyễn Đức D. về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TP giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức D. từ 09 (Chín) tháng đến 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 (Mười tám) đến 24 (Hai mươi bốn) tháng về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

- Bị cáo Nguyễn Đức D. thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện TP và xác định việc truy tố bị cáo là đúng, không oan, bị cáo đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện TP, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện TP, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đức D. không có ý kiến, cũng như không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện, đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã làm rõ: Bị cáo Nguyễn Đức D. có giấy phép lái xe hạng C, số 310162874048, nên được Nguyễn Thành Nhân - là chủ phương tiện biển số 51C-164.96 thuê điều khiển xe để vận chuyển hàng từ thành phố Hồ Chí Minh đến Bình Định. Vào lúc 04 giờ 25 phút, ngày 28-4-2022, bị cáo điều khiển xe ô tô biển số 51C-164.96 trên đường Quốc lộ 1A, hướng Phan Rang-Phan Thiết theo lộ trình Bình Định về thành phố Hồ Chí Minh. Khi đến thôn Vĩnh Tiến, xã Vĩnh Tân, huyện TP, tại Km1599+50m, bị cáo cho xe tấp vào lề bên phải đường thì xảy ra va chạm với xe đạp do bà Nguyễn Thị B điều khiển đang đi bên trong lề đường phải. Hậu quả làm bà Nguyễn Thị B chết do shock chấn thương sọ não không hồi phục (Tại bản kết luận giám định pháp y số 459/PY-PC09 ngày 19/5/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh BT).

Tại khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ quy định các hành vi bị nghiêm cấm:“Hành vi vi phạm quy tắc giao thông đường bộ, hành vi khác gây nguy hiểm cho người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ”; Điều 13 Luật giao thông đường bộ quy định về sử dụng làn đường: “1. Trên đường có nhiều làn đường cho xe đi cùng chiều được phân biệt bằng vạch kẻ phân làn đường, người điều khiển phương tiện phải cho xe đi trong một làn đường và chỉ được chuyển làn đường ở những nơi cho phép; khi chuyển làn dường phải có tín hiệu báo trước và phải bảo đảm an toàn”; Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT quy định: “Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau: 1. Có báo hiệu cảnh báo nguy hiểm hoặc có chướng ngại vật trên đường”.

Xét thấy, đoạn đường xảy ra tai nạn giao thông là đoạn đường thẳng, không bị che khuất tầm nhìn, do bị cáo thiếu chú ý quan sát nên đã để xảy ra tai nạn giao thông làm chết bà Nguyễn Thị B là vi phạm vào khoản 23 Điều 8, Điều 13 Luật giao thông đường bộ và Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT. Vì vậy, có đủ cơ sở xác định bị cáo Nguyễn Đức D. đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, là tài xế lái xe ô tô hạng C nên nhận thức rõ các nguyên tắc tham gia giao thông, nhưng do thiếu chú ý quan sát, không kịp xử lý dẫn đến tai nạn giao thông làm chết người là do lỗi hoàn toàn của bị cáo. Hành vi của bị cáo đã gây thiệt hại về tính mạng cho người bị hại và làm ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn giao thông, làm mất trật tự trị an ở địa phương nên phải xử lý bị cáo để răn đe, giáo dục đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.

Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại do hành vi của mình gây ra; bị cáo có nhân thân tốt và đại điện hợp pháp của bị hại đã có đơn đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc khi lượng hình đối với bị cáo.

Về trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ chính, không có tình tiết tăng nặng, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng và để tạo điều kiện cho bị cáo rèn luyện trở thành công dân tốt nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương quản lý, giáo dục bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ áp dụng khoản 3 Điều 54 và khoản 1 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, để xét xử bị cáo mức án thấp hơn mức hình phạt được quy định và cho bị cáo được hưởng án treo.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của người bị hại đã nhận bồi thường trong quá trình điều tra vụ án và không có yêu cầu bồi thường nào khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Bị cáo Nguyễn Đức D. phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điều 268, Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức D. phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 3 Điều 54; khoản 1 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức D. 09 (Chín) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án 08-9-2022.

Giao bị cáo Nguyễn Đức D. cho Ủy ban nhân dân phường BHH B, Quận BT, thành phố Hồ Chí Minh quản lý và giáo dục. Trong trường hợp người hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Áp dụng: Khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Đức D. giấy phép lái xe ô tô hạng C số 310162874048 cấp ngày 04/10/2021.

Áp dụng: Khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí của Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Đức D. phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (08-9-2022). Đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc niêm yết Bản án.

(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo).

Cỡ chữ