vanban.org

Bản án 133/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 20/12/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 20/12/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giao bị cáo cho UBND xã Phúc Hà, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình ph… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm Bản án 395/2022/HS-ST Tuyên án 30/09/2022
Phúc thẩm — đang xem Bản án 133/2022/HS-PT Tuyên án 20/12/2022

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Hữu T cùng đồng phạm phạm tội “Đánh bạc” - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Giao bị cáo cho UBND xã Phúc Hà, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 133/2022/HS-PT
Ngày: 20 - 12 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nhài.

- Các thẩm phán: 1. Ông Đặng Minh Tuân

2. Ông Nguyễn Mạnh Toàn

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Khánh Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Lý Đình Kiêm, chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 12 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 105/2022/TLPT-HS ngày 01/11/2022 do có kháng cáo của bị cáo Trần Hữu T, Diệp Văn C đối với bản án hình sự sơ thẩm số 395/2022/HSST ngày 30/9/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

* Bị cáo có kháng cáo:

1. Trần Hữu T, tên gọi khác: Không; sinh ngày 01/01/1982

Nơi ĐKHK và chỗ ở: Xóm SC, xã SC, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông: Trần Hữu T1; con bà: Trương Thị Đ; có vợ là Nguyễn Thị C1 và có 01 con; tiền sự: Không;

Tiền án: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 594/2014/HSST ngày 8/12/2014 của Tòa án nhân dân Thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, xử phạt Trần Hữu T 09 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

- Nhân thân: Tại bản án hình sự phúc thẩm số 304/HSPT ngày 28/3/2006 của Tòa án nhân dân Tối cao tại Hà Nội, xử phạt Trần Hữu T 06 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 12 tháng về tội “Đánh bạc”.

Bị cáo tại ngoại. (Bị tạm giữ từ ngày 13/2/2022 đến ngày 15/2/2022). (Có mặt).

2. Diệp Văn C, tên gọi khác: Không; sinh ngày: 07/6/1989

Nơi ĐKHK và chỗ ở: Xóm H, xã PH, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Sán Dìu; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Diệp Văn C2; con bà: Trần Thị N; có vợ là: Tô Thị L và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại (bị tạm giữ từ ngày 13/2/2022 đến ngày 15/2/2022).(Có mặt).

Trong vụ án còn có 05 bị cáo là Phó Văn D, Bùi Đức D1, Nguyễn Trọng H, Nguyễn Văn G và Nguyễn Tùng D không kháng cáo, không bị kháng nghị, Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 05 phút ngày 13/02/2022, tổ công tác Công an Thành phố Thái Nguyên phối hợp với Công an xã Sơn Cẩm phát hiện bắt quả tang tại phòng ngủ tầng 1 nhà ở của Phó Văn D, sinh năm 1987, địa chỉ: Xóm SC, xã SC, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên có các đối tượng gồm: Phó Văn D, Trần Hữu T, Diệp Văn C, Bùi Đức D1, Nguyễn Tùng D, Nguyễn Trọng H, Nguyễn Văn G đang có hành vi đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa sát phạt nhau bằng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Vật chứng thu giữ tại chiếu bạc gồm: Tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: 20.700.000đ (trong đó: Thu trước mặt Trần Hữu T: 18.800.000đ; Thu trước mặt Phó Văn D: 1.900.000đ). Thu giữ trên người Trần Hữu T 69.370.000đ; Phó Văn D: 3.000.000đ; Nguyễn Văn G: 4.000.000đ; Nguyễn Trọng H: 100.000đ; Bùi Đức D1: 15.500.000đ D1 khai không sử dụng để đánh bạc. T, G, H khai số tiền thu giữ trên người dùng để đánh bạc. Tổng số tiền thu giữ trên chiếu bạc và trên người các đối tượng là 112.670.000đ. Tổng số tiền các bị cáo dùng đánh bạc là 97.170.000đồng.

Thu giữ 01 bát, đĩa sứ màu trắng; 04 quân vị làm bằng tre có một mặt bôi đen, kích thước 01x01cm; 01 đệm KT 1,6mx 1,8m vỏ đệm có hình hoa hồng là đệm các đối tượng ngồi lên để đánh bạc. Ngoài ra còn thu giữ 07 chiếc điện thoại di động của các đối tượng, đã qua sử dụng.

Tổ công tác Công an thành phố Thái Nguyên đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và đưa các đối tượng trên cùng vật chứng thu giữ về cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành Phố Thái Nguyên để điều tra làm rõ.

Tại cơ quan điều tra: Phó Văn D, Trần Hữu T, Bùi Đức D1, Nguyễn Trọng H, Diệp Văn C, Nguyễn Tùng D, Nguyễn Văn G khai nhận: Vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 13/02/2022 Phó Văn D đang ngủ ở nhà thì nhận được điện thoại từ Nguyễn Tùng D với nội dung D và Diệp Văn C đến nhà Phó Văn D để đánh bạc, Phó Văn D đồng ý. Khoảng 10 phút sau, Nguyễn Tùng D và C đến nhà Phó Văn D ngồi đợi, Nguyễn Tùng D tiếp tục dùng điện thoại gọi thêm G và D1 đến nhà Phó Văn D để đánh bạc. G và D1 đồng ý, rồi G dùng điện thoại gọi H đến nhà Phó Văn D để đánh bạc. Một lúc sau, có thêm D1, G, H đến nhà Phó Văn D. Sau đó, Nguyễn Tùng D và G vào bếp nhà Phó Văn D để cắt các mẩu trẻ, bôi đen một mặt làm quân vị để đánh bạc, còn H lấy bát đĩa tại bếp, rồi mang đi rửa để sử dụng đánh bạc. Sau khi chuẩn bị xong, mọi người hỏi Phó Văn D là đánh bạc tại đâu thì Phó Văn D đưa mọi người vào trong phòng ngủ cạnh nhà vệ sinh tại tầng một để đánh bạc. Cả nhóm ngồi trên chiếc đệm màu đỏ, trải sẵn trong phòng, H bỏ 04 quân vị vào đĩa, úp chiếc bát lên trên để xóc, còn mọi người ngồi xung quanh H để đặt tiền, (ban đầu H cầm cái trong xóc đĩa). Cả nhóm đánh bạc với nhau bằng hình thức đánh xóc đĩa, được thua bằng tiền Việt Nam đồng. Vào khoảng 15 giờ 36 phút cùng ngày, G gọi điện rủ Trần Hữu T đến nhà Phó Văn D để đánh bạc, T đồng ý và đến khoảng 16 giờ 45 phút cùng ngày thì T đến tham gia cùng. Sau khi T đến và tham gia đánh bạc cùng cả nhóm, thì Phó Văn D yêu cầu mỗi người nộp 200.000đ tiền hồ, là chi phí để Phó Văn D cung cấp công cụ, địa điểm cho mọi người đánh bạc, dọn dẹp sau khi đánh bạc tại nhà mình. Sau khi Phó Văn D thu tiền hồ xong (trừ Nguyễn Tùng D do mang đến ít tiền nên Phó Văn D chưa thu tiền), cả nhóm tiếp tục đánh bạc với nhau đến khoảng 18 giờ 05 phút cùng ngày thì bị tổ công tác Công an Thành phố Thái Nguyên phối hợp với Công an xã Sơn Cẩm phát hiện bắt quả tang như đã nêu trên.

Về số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc các đối tượng khai nhận:

- Trần Hữu T khi đi đánh bạc có 80.370.000đ, nộp 200.000đ tiền hồ, cho C vay 5.000.000đ. Thời điểm bắt quả tang T thắng bạc được khoảng 12.800.000đ. Khi bắt quả tang Công an thu giữ trước mặt Trần Hữu T: 18.800.000đ; Thu giữ trên người Trần Hữu T 69.370.000đ, T khai sẽ dùng vào mục đích đánh bạc.

- Diệp Văn C khai khi đi đánh bạc mang theo 310.000đ để đánh bạc, chơi đến ván thứ 5 thì hết tiền, nên C ngồi xem, đến khi Trần Hữu T đến C có vay của T 5.000.000đ và nộp 200.000đ tiền hồ rồi tiếp tục tham gia đánh bạc, nhưng vẫn thua hết. Khi Công an bắt quả tang C không bị thu giữ gì.

- Phó Văn D khi đánh bạc có 5.000.000đ, sau đó thu tiền cho sử dụng địa điểm để đánh bạc của mỗi người 200.000đ, được 1.000.000đ; Phó Văn D khai sử dụng toàn bộ số tiền để đánh bạc. Thời điểm bắt quả tang D bị thua khoảng 1.300.000đ và bị thu giữ trên tay 1.900.000đ và thu giữ trong ví 3.000.000đ.

- Bùi Đức D1 khi đi đánh bạc mang theo 16.500.000đ, chỉ sử dụng 1.000.000đ để đánh bạc, sau đó nộp 200.000đ tiền hồ. Thời điểm bắt quả tang D1 bị thua 800.000đ. Khi bắt quả tang Công an thu giữ D1 bị thu giữ trên người 15.500.000đ (Số tiền này D1 xác định không sử dụng để đánh bạc).

- Nguyễn Trọng H khai khi đi đánh bạc mang theo 6.000.000đ, nộp 200.000đ tiền hồ, sử dụng toàn bộ số tiền mang theo để đánh bạc. Tại thời điểm bắt quả tang H bị thua và bị thu giữ số tiền còn lại là 100.000đ.

- Nguyễn Văn G khai khi đi đánh bạc mang theo 4.850.000đ, nộp 200.000đ tiền hồ. Tại thời điểm bắt quả tang G đang thua bạc và bị thu giữ trên người 4.000.000đ, toàn bộ số tiền mang theo đều sử dụng vào mục đích đánh bạc.

- Nguyễn Tùng D khai khi đi đánh bạc mang theo số tiền 400.000đ để đánh bạc, không phải nộp 200.000đ tiền hồ và đã thua hết, không bị thu giữ gì.

Về hình thức đánh xóc đĩa, các đối tượng quy ước như sau: Khi đánh xóc đĩa, cả nhóm chọn ra một người cầm cái (cầm đĩa và bát để xóc) ban đầu là H cầm cái, sau khi T đến thì T cầm cái trong suốt quá trình đánh bạc. Người cầm cái sau khi xóc đĩa xong thì đặt xuống trước mặt, rồi mọi người đặt cược, quy định đặt tiền cạnh bên tay phải người cầm cái là chẵn, bên tay trái người cầm cái là lẻ. Nếu sau khi mở bát ra có 01 hoặc 03 quân vị màu đen hoặc trắng thì kết quả là lẻ, có 02 hoặc 04 quân vị màu trắng hoặc đen thì kết quả là chẵn, nếu đặt cược trúng kết quả thì sẽ ăn tiền tương ứng của bên đặt cược sai kết quả, tỉ lệ 01 ăn 01. Nếu sau khi bù tiền cho bên thắng còn thừa thì người cầm cái sẽ được hưởng, nếu thua thì phải bù ra để trả. Mức đặt cược tối thiểu là 100.000đ, không giới hạn số tiền tối đa đặt cược mỗi ván.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 395/2022/HSST ngày 30/9/2022 Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm, quyết định: Tuyên bố: Trần Hữu T, Diệp Văn C phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; (điểm h khoản 1 Điều 52 đối với bị cáo T); Điều 38; Điều 58 BLHS, xử phạt:

- Trần Hữu T 39 (Ba mươi chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 13/02/2022 đến ngày 15/02/2022. Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000đồng.

- Diệp Văn C 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 13/02/2022 đến ngày 15/02/2022. Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000đồng.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về tội danh, mức hình phạt đối với các bị cáo khác, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 12/10/2022 bị cáo Trần Hữu T kháng cáo với nội dung xin giảm hình phạt.

Ngày 14/10/2022 bị cáo Diệp Văn C kháng cáo với nội dung xin hưởng án treo, kèm theo đơn kháng cáo là biên lai thu tiền nộp phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay Bị cáo T rút đơn kháng cáo. Bị cáo C giữ nguyên nội dung kháng cáo và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tại phiên tòa: Sau khi tóm tắt nội dung vụ án, phân tích đánh giá tính chất vụ án, hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và các vấn đề liên quan đến kháng cáo của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 342, Điều 348 Bộ luật tố tụng hình sự, Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Trần Hữu T. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Diệp Văn C, sửa bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên theo hướng giữ nguyên mức hình phạt và chuyển 36 tháng tù cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng bị cáo C xin hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo T và C làm trong hạn luật định được đưa ra xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Trần Hữu T rút toàn bộ kháng cáo. Xét việc rút kháng cáo của bị cáo T là tự nguyện, căn cứ đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Hội đồng xét xử quyết định đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Trần Hữu T, bản án sơ thẩm liên quan đến bị cáo Trần Hữu T có hiệu lực pháp luật, bị cáo T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

. Về nội dung: Căn cứ các tài liệu đã thu thập trong hồ sơ vụ án, căn cứ lời khai của các bị cáo khai trong quá trình điều tra cũng như phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:

Khoảng 18 giờ 05 phút ngày 13/02/2022 tại nhà ở của Phó Văn D ở Xóm SC, xã SC, thành phố TN. Bị cáo Trần Hữu T, Diệp Văn C cùng Phó Văn D, Nguyễn Tùng D, Nguyễn Trọng H, Bùi Đức D1, Nguyễn Văn G có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức đánh xóc đĩa được thua bằng tiền, số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là 97.170.000 đồng. Phó Văn D còn có hành vi gá bạc và thu lời bất chính số tiền 1.000.000 đồng..

Với hành vi trên, Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã xét xử bị cáo Trần Hữu T, Diệp Văn C phạm tội “Đánh bạc” theo điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

. Xét kháng cáo của bị cáo C, Hội đồng xét xử xét thấy:

Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm thành khẩn, ăn năn hối cải khai nhận hành vi phạm tội của mình, số tiền bị cáo tham gia đánh bạc ít. Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã xuất trình biên lai thi hành xong khoản tiền phạt bổ sung và tiền án phí theo bản án sơ thẩm đã tuyên, điều đó thể hiện ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo. Ngoài các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo, bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Xét bị cáo phạm tội là đồng phạm với vai trò giản đơn, có nơi cư trú rõ ràng được chính quyền địa phương xác nhận, có khả năng tự cải tạo và việc cho hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội. Căn cứ vào Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/2/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo. Do đó, có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo C, giữ nguyên mức hình phạt và chuyển biện pháp cải tạo cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt.

. Về tiền phạt bổ sung 10.000.000 đồng và tiền án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng. Ngày 11/10/2022 bị cáo Diệp Văn C đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên (biên lai thu số 0000738) nên được ghi nhận.

. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí: Bị cáo C không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 342, 348 Bộ luật tố tụng hình sự: Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Trần Hữu T. Các quyết định tại bản án sơ thẩm số 395/2022/HS-ST ngày 30/9/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đối với bị cáo Trần Hữu T có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 20/12/2022.

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Diệp Văn C. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 395/2022/HS-ST ngày 30/9/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đối với bị cáo Diệp Văn C.

1. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt: Diệp Văn C 36 (Ba mươi sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm về tội “Đánh bạc”,

Giao bị cáo cho UBND xã Phúc Hà, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

+ Ghi nhận ngày 11/10/2022 bị cáo Diệp Văn C đã nộp 10.000.000đồng tiền phạt bổ sung, 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên (biên lai thu số 0000738).

2. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo T và C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ